Chương 1: giới thiệu chung trình bày lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và tóm tắt kết cấu của luận văn. 3 Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế tri thức Chương 2: trình bày cơ sở lý thuyết, các khái niệm chủ yếu của đề tài như FDI, Kinh tế tri thức và tóm lược các nghiên cứu trước có liên quan. Chương 3: trình bày về thiết kế và xây dựng mô hình nghiên cứu, mô tả các biến, xây dựng thang đo, nguồn dữ liệu và cách thức thu thập dữ liệu. Chương 4: trình bày kết quả nghiên cứu thông việc việc phân tích dữ liệu và kiểm định mô hình hồi quy.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Chương này trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu ở chương 4 và đưa ra các kiến nghị chính sách. Ngoài ra chương này cũng chỉ ra các hạn chế của nghiên cứu và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo. 4 Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế tri thức CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này sẽ trình bày khái quát về Đầu tư trực tiếp nước ngoài, Kinh tế tri thức, vai trò của Đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế. Tổng quan về FDI 2. Khái niệm FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một khái niệm rất quen thuộc. Nhiều tổ chức trên thế giới đã đưa ra các định nghĩa khác nhau để giúp chúng ta có thể hiểu một cách cụ thể, rõ ràng về FDI.
Theo WTO “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong trường hợp chủ đầu tư là doanh nghiệp ở nước đầu tư thì được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản đầu tư ở nước nhận đầu tư được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty" (trích bởi CIEM, 2010).
Theo IMF, “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư – hosting country), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư – source country) với mục đích quản lý có hiệu quả doanh nghiệp”, (trích bởi Đặng Hoàng Thanh Nga, 2011). Theo UNCTAD, Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc thể nhân đối với doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác, (trích bởi Đặng Hoàng Thanh Nga, 2011). Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1996) định nghĩa "Đầu tư trực tiếp nước ngoài" là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này. Khác với Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1996), Luật đầu tư (2005) không đưa ra khái niệm “Đầu tư trực tiếp nước ngoài” mà chỉ đưa ra khái niệm “Đầu tư nước ngoài”.
Theo đó “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”. Đồng thời 5 Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế tri thức Luật này cũng đưa ra khái niệm “Đầu tư trực tiếp là hình thức nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. Từ hai khái niệm trên ta có thể hiểu Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn đầu tư vào Việt Nam và có tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Như vậy tuy có nhiều định nghĩa về FDI nhưng tựu trung lại FDI là hình thức mà nhà đầu tư bỏ vốn vào một quốc gia khác và có sự tham gia quản lý, điều hành hoạt động bỏ vốn đầu tư của mình.1 - Biểu đồ FDI Việt Nam giai đoạn 2005- 2014 12.150 700 65 85 184 300 - 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 FDI-in FDI-out Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo đầu tư toàn cầu 2015 (WIR2015) 2.
Các hình thức FDI Có nhiều cách để phân loại FDI. Sau đây là một số cách phân loại phổ biến. - Theo bản chất đầu tư: Theo CIEM (2010) về bản chất đầu tư thì FDI được phân thành các loại sau đây: Đầu tư phương tiện hoạt động: Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào nước tiếp nhận.
6 Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế tri thức Mua lại và sáp nhập: Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào nước tiếp nhận. - Theo tính chất dòng vốn: Theo CIEM (2010) thì FDI phân theo tính chất dòng vốn bao gồm: Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty. Vốn tái đầu tư: Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.
Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty xuyên quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau. - Theo hình thức góp vốn đầu tư, bao gồm: Hình thức doanh nghiệp liên doanh. Hình thức Công ty cổ phần. Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT. Hình thức Công ty 100% vốn nước ngoài. 7 Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế tri thức Hình 2.2 - Biểu đồ các hình thức FDI tại Việt Nam năm 2014 2% 2% 3% 25% 68% 100% Vốn nước ngoài Doanh nghiệp liên doanh Hợp đồng BOT, BTO, BT Hợp đồng hợp tác kinh doanh Công ty Cổ phần Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài 2014 Theo Phạm Thị Hoàng Anh (2013), Hình thức FDI phổ biến hiện nay là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài do đây là hình thức mang lại quyền quản lý cũng như tỷ lệ phân chia lợi nhuận tối đa cho nhà đầu tư FDI. Thêm vào đó, khi các TNCs đã có những hiểu biết nhất định về thị trường Việt Nam thì lợi thế của hình thức doanh nghiệp liên doanh, hình thức đầu tư FDI chủ đạo tại Việt Nam trong giai đoạn 1988–1996, sẽ bị mất đi.
Và với sự mở rộng về hành lang pháp lý của Việt Nam với mọi loại hình đầu tư FDI, sự đi lên về tỷ trọng của hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là tất yếu. Cùng với đó, hình thức đầu tư qua doanh nghiệp liên doanh dần trở nên kém hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài. Các hình thức đầu tư FDI còn lại là hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng BOT, BTO, BT và cổ phần có sự đóng góp nhỏ hơn. Đặc biệt, cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam kể từ khi nước ta gia nhập WTO, hình thức vốn cổ phần ngày càng được ưa chuộng.
- Theo động cơ của nhà đầu tư: theo CIEM (2010) thì FDI phân theo động cơ của nhà đầu tư bao gồm: 8 Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế tri thức Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào. Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh.
Vốn tìm kiếm hiệu quả: Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, điều kiện pháp lý v. Vốn tìm kiếm thị trường: Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh giành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu. Các nhân tố thúc đẩy FDI Theo CIEM (2010), có nhiều nhân tố thúc đẩy dịch chuyển dòng vốn FDI giữa các nước.
Sau đây là các nhân tố cơ bản: - Chênh lệch về năng suất cận biên vốn của các nước: Helpman và Sibert, Richard S. Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên của vốn giữa các nước. Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn. Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn.
Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Vì chi phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn.