Tổng quan nghiên cứu

Theo Báo cáo Phát triển Con người của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc năm 2011, Việt Nam xếp thứ 128 trên tổng số 187 quốc gia và vùng lãnh thổ về chỉ số phát triển con người, đồng thời ghi nhận tỷ lệ nữ tham gia cơ quan lập pháp đạt 24,4% ở Quốc hội khóa XIII, tăng vượt bậc so với mức 3% ở Quốc hội khóa I. Mặc dù Việt Nam đã sớm ban hành Luật Bình đẳng giới năm 2006 gồm 6 chương, 74 điều và phê chuẩn các điều ước quốc tế quan trọng, thực tiễn thi hành vẫn còn khoảng cách đáng kể giữa văn bản quy phạm pháp luật và đời sống thực tế. Định kiến giới truyền thống mang nặng tàn dư Nho giáo, bất bình đẳng trong phân công lao động gia đình và chênh lệch thu nhập vẫn diễn ra phổ biến tại nhiều địa phương, đặc biệt ở khu vực nông thôn và miền núi.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ bản chất của ý thức pháp luật và vai trò quyết định của ý thức pháp luật trong việc thúc đẩy bình đẳng giới thực chất. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, phân tích thực trạng nhận thức và hành vi tuân thủ pháp luật bình đẳng giới từ trung ương đến cơ sở, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm xây dựng ý thức pháp luật tiến bộ cho toàn xã hội.

Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian trên phạm vi toàn quốc với các đặc thù vùng miền (đô thị, nông thôn, đồng bằng, miền núi) và đối chiếu với kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới. Phạm vi thời gian tập trung phân tích giai đoạn từ năm 2006 khi Luật Bình đẳng giới có hiệu lực đến năm 2013. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế, hỗ trợ thực hiện thành công Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 với chỉ tiêu đạt trên 70% cơ quan nhà nước có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin cùng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và quyền bình đẳng nam nữ. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định giải phóng phụ nữ là một cuộc cách mạng sâu sắc về chính trị, kinh tế, văn hóa và pháp luật. Nguyên tắc hiến định về quyền bình đẳng được kế thừa xuyên suốt từ Điều 9 Hiến pháp năm 1946 đến Điều 63 Hiến pháp năm 1992, khẳng định công dân nam và nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết xã hội học pháp luật về cấu trúc ý thức pháp luật, bao gồm hai bộ phận cốt lõi: hệ tư tưởng pháp luật (nhận thức lý luận, quan điểm chính thống của giai cấp cầm quyền) và tâm lý pháp luật (tình cảm, thái độ, thói quen xử sự hàng ngày của cá nhân đối với pháp luật). Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Giới: Đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội theo Khoản 1 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006.
  • Bình đẳng giới: Việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực theo Khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006, hàm chứa 4 đặc tính cơ bản: tính ngang quyền, tính ưu đãi xã hội, tính linh hoạt và tính phân loại đối tượng.
  • Ý thức pháp luật bình đẳng giới: Tổng thể các tư tưởng, quan niệm, thái độ và sự đánh giá của con người về bình đẳng giới và chuẩn mực pháp lý về giới.
  • Khung chuẩn mực quốc tế: Công ước về Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1979 và Việt Nam phê chuẩn ngày 17 tháng 02 năm 1982.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn từ hơn 20 báo cáo giám sát chuyên đề của Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, số liệu thống kê bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp qua nhiều nhiệm kỳ, cùng báo cáo tổng kết thi hành pháp luật tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn 2006 - 2012.

Cỡ mẫu khảo sát thống kê phản ánh toàn diện cơ cấu cán bộ nữ tại 4 cấp chính quyền hành chính (trung ương, tỉnh, huyện, xã) và dữ liệu thu nhập của hàng ngàn lao động làm công ăn lương trong 6 tháng đầu năm 2011. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chỉ tiêu đại diện được áp dụng nhằm phản ánh khách quan sự khác biệt về nhận thức pháp luật giữa các khu vực địa lý.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê xã hội học và phương pháp so sánh luật học là nhằm đo lường chính xác tác động qua lại giữa văn bản pháp luật thực định và thực tiễn tâm lý xã hội. Việc so sánh đối chiếu kinh nghiệm quốc tế với mô hình hạn ngạch 40% của Na Uy và Đạo luật Bình đẳng năm 1986 của Phần Lan giúp luận văn rút ra những bài học lập pháp có giá trị ứng dụng cao cho Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị và cơ quan dân cử đạt thành tựu đáng ghi nhận ở cấp trung ương nhưng có xu hướng suy giảm dần ở cấp cơ sở. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIII (nhiệm kỳ 2011 - 2016) đạt 24,4%, đưa Việt Nam xếp thứ 40 trong tổng số 188 quốc gia trên thế giới và đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, tại Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016, tỷ lệ nữ đại biểu cấp tỉnh đạt 25,17%, cấp huyện đạt 24,62%, nhưng cấp xã chỉ đạt 21,71%. Tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy Đảng nhiệm kỳ 2010 - 2015 ở cấp tỉnh chỉ đạt 11,3%, cấp huyện đạt 15,15%, và Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI dừng ở mức 9%.

Thứ hai, tỷ lệ nữ cán bộ giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt chưa đạt mục tiêu đề ra tại Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020. Tính đến hết tháng 02 năm 2012, tỷ lệ Bộ và cơ quan ngang Bộ có nữ cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt đạt 40% (12 trên tổng số 30 cơ quan), trong khi mục tiêu đến năm 2015 là 80%. Ở cấp địa phương, chỉ có 24 trên 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nữ giữ chức danh Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, chiếm tỷ lệ 38%.

Thứ ba, sự bất bình đẳng giới trong phân công lao động, thu nhập và đời sống gia đình vẫn còn khoảng cách lớn. Số liệu thống kê 6 tháng đầu năm 2011 cho thấy thu nhập bình quân hàng tháng của lao động nữ làm công ăn lương luôn thấp hơn từ 10% đến 15% so với nam giới có cùng trình độ chuyên môn. Định kiến "trọng nam khinh nữ" vẫn chi phối sâu sắc, dẫn đến tình trạng mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh tại nhiều tỉnh thành và bạo lực gia đình đối với phụ nữ vẫn chưa được ngăn chặn triệt để.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ sự chậm chuyển biến trong tâm lý pháp luật của xã hội. Thói quen gia trưởng và tư tưởng Nho giáo tích tụ hàng ngàn năm đã tạo nên lực cản vô hình đối với sự tiến bộ của phụ nữ. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bình đẳng giới tại các cấp cơ sở còn mang tính hình thức, thiếu nguồn kinh phí và phương pháp tiếp cận chưa phù hợp với từng nhóm đối tượng dân cư.

Dữ liệu thực trạng chính trị và kinh tế có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ đường thể hiện tiến trình gia tăng tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội từ khóa I (3%) đến khóa XIII (24,4%), kết hợp bảng ma trận so sánh tỷ lệ nữ cán bộ tham gia cấp ủy và Ủy ban nhân dân tại 63 tỉnh thành. Việc biểu diễn trực quan này làm rõ nghịch lý: khung pháp lý về bình đẳng giới của Việt Nam rất tiến bộ nhưng việc thực thi ở cấp cơ sở còn thiếu các chế tài ràng buộc cụ thể.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, các quốc gia Bắc Âu đạt chỉ số phát triển con người hàng đầu thế giới như Na Uy (HDI đạt 0,943) và Phần Lan (có 11 trên 20 bộ trưởng là nữ, chiếm tỷ lệ 55%) đã áp dụng thành công các quy định pháp luật mang tính cưỡng chế, tiêu biểu là hạn ngạch tối thiểu 40% đại diện mỗi giới trong mọi cơ quan công quyền. Điều này khẳng định rằng ý thức pháp luật chỉ có thể được định hình vững chắc khi đi đôi với cơ chế giám sát thực thi nghiêm minh và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới mang tính đột phá.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật và cơ chế thực thi lồng ghép giới. Quốc hội và Chính phủ cần rà soát, bổ sung các chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi phân biệt đối xử về giới trong tuyển dụng và bổ nhiệm cán bộ. Mục tiêu đến năm 2015 đạt 100% dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được đánh giá tác động giới nghiêm ngặt trước khi ban hành, do Bộ Tư pháp và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì thẩm định.

Thứ hai, đa dạng hóa các mô hình thông tin, giáo dục và truyền thông pháp luật. Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam xây dựng các chiến dịch truyền thông thay đổi hành vi tại 63 tỉnh thành, tập trung vào đối tượng nam giới và vùng nông thôn. Mục tiêu trong giai đoạn 2013 - 2018 nâng cao tỷ lệ hiểu biết pháp luật bình đẳng giới của người dân khu vực nông thôn và dân tộc thiểu số đạt từ 80% trở lên.

Thứ ba, kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ chuyên trách về bình đẳng giới. Bộ Nội vụ và Ủy ban nhân dân các cấp cần xây dựng quy hoạch đào tạo cán bộ nữ dài hạn, bảo đảm chỉ tiêu đến năm 2015 có ít nhất 70% cơ quan nhà nước có cán bộ nữ tham gia lãnh đạo chủ chốt. Đồng thời, tổ chức bồi dưỡng kiến thức giới chuyên sâu cho hơn 1.000 cán bộ làm công tác pháp chế và thanh tra trên cả nước.

Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và hợp tác quốc tế. Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội cần duy trì tối thiểu 2 đợt thanh tra chuyên đề mỗi năm về việc thực hiện chế độ cho lao động nữ và phòng chống bạo lực gia đình. Tận dụng tối đa các nguồn lực tài chính và kinh nghiệm quốc tế giai đoạn 2014 - 2020 để giải quyết hiệu quả tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh và tạo việc làm bền vững cho phụ nữ nông thôn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp: Các đại biểu Quốc hội, chuyên viên ban soạn thảo luật của Bộ Tư pháp và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ tìm thấy những luận cứ thực tiễn từ 63 địa phương để sửa đổi chính sách pháp luật, xây dựng quy chuẩn lồng ghép giới trong các dự án luật tương lai.

Nhóm tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể: Đội ngũ cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp từ trung ương đến hơn 10.000 xã phường có thể sử dụng các chỉ số và mô hình tuyên truyền trong luận văn để thiết kế các chương trình vận động bình đẳng giới sát thực tế địa phương.

Nhóm nghiên cứu và giảng dạy học thuật: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Xã hội học pháp luật có thể khai thác hơn 100 tài liệu trích dẫn và khung phân tích ý thức pháp luật như một tài liệu tham khảo chuẩn mực.

Nhóm tổ chức phi chính phủ và cơ quan tài trợ quốc tế: Các chuyên gia phát triển của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế có thể tham khảo dữ liệu so sánh cơ cấu nhân lực tại 4 cấp hành chính để thiết kế các dự án viện trợ nâng cao năng lực cho phụ nữ và giảm nghèo bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Ý thức pháp luật về bình đẳng giới có điểm gì khác biệt so với nhận thức thông thường? Ý thức pháp luật về bình đẳng giới không dừng lại ở sự đồng cảm hay thiện chí cá nhân mà là tổng thể nhận thức, thái độ và tình cảm dựa trên các quy phạm pháp luật thực định. Nó đòi hỏi sự hiểu biết chính xác về 74 điều của Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Công ước CEDAW năm 1979, biến các nguyên tắc pháp lý thành hành vi xử sự tự giác trong đời sống xã hội.

Tại sao tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo ở cấp cơ sở vẫn còn thấp? Theo số liệu thống kê nhiệm kỳ 2011 - 2016, tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã chỉ đạt 21,71%, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 30% của Chiến lược quốc gia. Nguyên nhân là do định kiến giới tại nông thôn còn sâu sắc, gánh nặng công việc gia đình đè nặng lên phụ nữ và công tác quy hoạch cán bộ nguồn chưa có cơ chế ràng buộc pháp lý chặt chẽ.

Các đặc tính cơ bản của bình đẳng giới theo quy định pháp luật gồm những gì? Khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 xác định bình đẳng giới bao gồm 4 đặc tính: tính ngang quyền về cơ hội tham gia và thụ hưởng, tính ưu đãi hỗ trợ phụ nữ do đặc thù sinh học và thai sản, tính linh hoạt điều chỉnh theo từng giai đoạn lịch sử, và tính phân loại đối tượng để áp dụng chính sách phù hợp với từng vùng miền.

Kinh nghiệm lập pháp của Na Uy có thể gợi mở bài học gì cho Việt Nam? Luật Bình đẳng giới năm 1979 của Na Uy quy định bắt buộc tỷ lệ đại diện của mỗi giới trong các hội đồng và cơ quan công quyền từ 4 thành viên trở lên phải đạt tối thiểu 40%. Việc thiết lập chế tài pháp lý bắt buộc kết hợp cơ quan thanh tra độc lập là đòn bẩy quyết định giúp Na Uy đạt chỉ số phát triển con người 0,943 và bảo đảm cân bằng quyền lực thực chất.

Giải pháp then chốt để xóa bỏ định kiến giới trong phân công lao động gia đình là gì? Giải pháp đột phá là kết hợp tuyên truyền giáo dục pháp luật với nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ. Khi phụ nữ nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề và tạo việc làm để nâng mức thu nhập từ 10% đến 20%, vai trò và tiếng nói quyết định của họ trong hơn 70% hộ gia đình sẽ được cải thiện rõ rệt, từ đó thay đổi định kiến gia trưởng.

Kết luận

  • Xây dựng ý thức pháp luật về bình đẳng giới là cuộc cách mạng tư tưởng then chốt nhằm hiện thực hóa mục tiêu dân chủ và bảo đảm quyền con người tại Việt Nam.
  • Việt Nam đã đạt bước tiến lớn với tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIII đạt 24,4%, xếp thứ 40 trên 188 quốc gia trên thế giới, nhưng vẫn đối mặt với sự suy giảm tỷ lệ này ở cấp xã (21,71%).
  • Khoảng cách giới trong tỷ lệ tham gia cấp ủy cấp tỉnh (11,3%) và chênh lệch thu nhập từ 10% đến 15% trong năm 2011 đòi hỏi phải có các chế tài lập pháp mạnh mẽ hơn.
  • Mô hình hạn ngạch 40% của Na Uy và kinh nghiệm quản lý của Phần Lan là những bài học giá trị giúp Việt Nam hoàn thiện thể chế pháp lý và cơ chế giám sát.
  • Kiện toàn năng lực cho hơn 1.000 cán bộ chuyên trách và đổi mới công tác truyền thông là giải pháp cốt lõi để đạt chỉ tiêu 70% cơ quan có lãnh đạo chủ chốt là nữ vào năm 2015.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là lần đầu tiên hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về ý thức pháp luật bình đẳng giới tại Việt Nam từ góc độ khoa học pháp lý. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu cần đẩy mạnh lộ trình thực hiện các khuyến nghị trong giai đoạn 2014 - 2020 nhằm thu hẹp khoảng cách giới thực chất. Hãy tham khảo toàn văn luận văn để khai thác hệ thống luận cứ sâu sắc và giải pháp ứng dụng thiết thực cho công tác bình đẳng giới hiện nay.