chương 1 Văn hóa có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống. Văn hóa doanh nghiệp là một bộ phận của văn hóa và mang nhiều đặc điểm quan trọng quyết định đến sự hình thành cũng như phát triển bền vững của một doanh nghiệp. Để nghiên cứu về tình hình thực tế văn hóa doanh nghiệp cũng như đề ra những giải pháp tốt, có rất nhiều mô hình đã được các chuyên gia đưa ra trên thế giới. Trong phạm vi khóa luận này, mô hình áp dụng để phân tích thực trạng văn hóa doanh nghiệp là Mô hình 5 góc độ văn hóa của Geert Hofstede.
Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, việc phát triển văn hóa doanh nghiệp được đặt ra trong thời điểm hiện tại là một nhu cầu cấp thiết, đòi hỏi phải có những sự đầu tư đúng mực hơn để đánh giá thực trạng và đề ra những hướng đi trong thời gian tới. Một số mô hình xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp của một số doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các địa phương khác được 21 phân tích và đưa lại cái nhìn tổng quan hơn về bài học kinh nghiệm xây dựng văn hóa doanh nghiệp trong bối cảnh phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay, là những ví dụ điển hình để các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có thể học tập. Chương 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG 2. Phân tích thực trạng xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Khóa luận tập trung làm rõ những đặc điểm tiêu biểu của văn hóa doanh nghiệp tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng thông qua mô hình Năm góc độ văn hóa của Geert Hofstede đã đề cập ở chương 1.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hành cuộc điều tra khảo sát về Văn hóa doanh nghiệp tại một số doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Có 40 công ty tham gia khảo sát với số lượng phiếu khảo sát hợp lệ là 40 phiếu, đạt tỷ lệ 100%. 22 Bảng mẫu phiếu khảo sát và kết quả khảo sát được thể hiện cụ thể tại phụ lục 1 và phụ lục 2. Do quy mô cuộc điều tra không lớn nên những kết quả thu được dừng lại ở việc phản ánh một số đặc điểm tiêu biểu sau: 2.
Góc độ khoảng cách quyền lực Nhìn chung, văn hóa của người Việt Nam thường xem trọng thứ bậc trong xã hội và tâm lý học để làm thầy, học để làm quan còn khá phổ biến. Tính tôn trọng thứ bậc trong xã hội có thể là một trở ngại cho doanh nghiệp khi muốn huy động sự tham gia của mọi thành viên trong quá trình xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Ưu điểm của việc tôn trọng thứ bậc trong xã hội là việc áp đặt các giá trị ban đầu của văn hóa doanh nghiệp có thể tiến hành một cách dễ dàng, quyết định của lãnh đạo được triển khai và thực hiện một cách nhanh chóng. Xét về khía cạnh giao tiếp, do ảnh hưởng của việc đề cao thứ bậc, các mối quan hệ trong kinh doanh cũng bị chi phối ít nhiều bởi quan hệ tuổi tác, địa vị xã hội.
Tâm lý học để làm quan thể hiện rõ ở lớp học sinh, sinh viên học để lấy điểm trong khi những kiến thức trên ghế nhà trường thường mau chóng quên sau khi ra trường, cũng không có kỹ năng để áp dụng những kiến thức học được vào môi trường làm việc thực tế. Điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp khi tuyển dụng vì công nhân lành nghề thì ít mà cử nhân lý thuyết suông thì lại quá nhiều. Đa phần các doanh nghiệp tại Việt Nam khi tuyển dụng phải đào tạo lại từ đầu thì nhân viên mới có thể thích ứng với công việc. Đây là một trong những nguyên nhân khiến chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta còn thấp.
Tâm lý này xuất phát từ lịch sử phong kiến, hàng trăm năm bị đô hộ bởi thực dân và những truyền thống như “tôn sư trọng đạo” đã tồn tại từ lâu đời trong nếp sống của người Việt. Do đó, môi trường văn hóa doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng ít nhiều bởi yếu tố này. Để khảo sát góc độ này, tác giả đã sử dụng các câu hỏi 1, 2, 3, 4 và 8. Sau quá trình khảo sát, có 2 đặc điểm chính thể hiện góc độ khoảng cách quyền lực của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, cụ thể như sau: 2.
Sự phân cấp quyền lực trong doanh nghiệp còn khá cao Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là số lượng nhân viên khá ít, cơ cấu tổ chức không quá phức tạp, tuy nhiên tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh 23 Lâm Đồng vẫn còn tồn tại một khoảng cách đáng kể về quyền lực giữa nhân viên và các lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp. Khi được hỏi “mức độ tham gia của lãnh đạo doanh nghiệp trong các hoạt động tập thể với nhân viên” có đến 60% doanh nghiệp trả lời ở mức không bao giờ cho đến thỉnh thoảng, đôi khi. Trả lời cho câu hỏi “khi nhân viên gặp khó khăn (tang gia, đau ốm”, doanh nghiệp thường làm gì”, cũng chỉ có 37,5% doanh nghiệp có lãnh đạo trực tiếp đến thăm hỏi. Điều này cho thấy số lãnh đạo thực sự có sự quan tâm sâu sát tới đời sống và hoạt động của nhân viên là thiểu số.
Việc đưa ra quyết định tại các doanh nghiệp cũng còn phụ thuộc khá nhiều vào lãnh đạo, vai trò của nhân viên tuy có được cân nhắc đến, nhưng quyết định cuối cùng vẫn thuộc về người lãnh đạo cấp cao. Có đến 30% doanh nghiệp cho biết lãnh đạo cao nhất của họ là người ra quyết định, nhân viên chỉ làm theo và 62,5% cho biết tuy được hỏi ý kiến nhưng quyết định cuối cùng là do lãnh đạo cao nhất đưa ra khi được hỏi “trong doanh nghiệp, quyết định được đề ra như thế nào”. 24 Vấn đề mức độ bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa lãnh đạo và nhân viên cũng được khảo sát, và chỉ có khoảng 25% số doanh nghiệp cho rằng trong doanh nghiệp của họ, lãnh đạo và nhân viên bình đẳng với nhau. Khoảng cách giữa lãnh đạo và nhân viên còn khá lớn thể hiện ở việc có tới 30% số doanh nghiệp được hỏi cho biết nhân viên của họ thường im lặng và thực hiện công việc một cách đối phó “khi nhận được quyết định không hợp lý từ lãnh đạo”.
Đây là một biểu hiện chống đối trong tư tưởng nhưng ngoài mặt vẫn không muốn gây mâu thuẫn với lãnh đạo.1: Sự tham gia của nhân viên trong quá trình đưa ra quyết định tại các doanh nghiệp vừa vả nhỏ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng (Nguồn: Phụ lục 2) Kết quả này cho thấy sự thiếu sâu sát của các lãnh đạo đối với nhân viên của mình. Mặc dù điều kiện để gần gũi với từng nhân viên là không khó (do quy mô doanh nghiệp nhỏ), nhưng nhiều lãnh đạo lại không chủ động thu hẹp khoảng cách này. Khoảng cách này lâu ngày không có động thái tích cực để rút ngắn sẽ ngày càng nới rộng thêm ra, khiến mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên trong doanh nghiệp trở nên ngày càng xa cách, rất khó để truyền tải đầy đủ nội dung thông tin trong công việc cũng như xây dựng mối quan hệ giữa các thành viên. Yếu tố bằng cấp đang dần giảm ưu thế Đối với xã hội Việt Nam, đặc biệt tại những nơi mà nền kinh tế chưa hội nhập sâu và rộng như tỉnh Lâm Đồng, tâm lý học để làm quan, học để có bằng cấp vẫn còn rất nặng nề.
Tuy nhiên, những năm gần đây, theo xu hướng “Đào tạo theo 25 nhu cầu của xã hội” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã có ít nhiều biến chuyển trong việc nhìn nhận vấn đề bằng cấp. Tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh Lâm Đồng, khi tiến hành khảo sát “việc khen thưởng, thăng cấp, đề bạt trong doanh nghiệp chủ yếu dựa vào yếu tố gì”, có đến 77,5% doanh nghiệp trả lời là dựa vào năng lực, hiệu quả làm việc. Điều này cho thấy, tuy quy mô nhỏ, nhưng tính cạnh tranh trong các doanh nghiệp này là rất cao và diễn ra khá công bằng. Chỉ có 22,5% doanh nghiệp cho biết việc thăng cấp, khen thưởng là dựa vào bằng cấp hay thâm niên công tác.
Lý giải cho điều này, ta có thể thấy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu nằm ngoài khối quốc doanh, do đó, doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại và phát triển khi mỗi nhân viên đều làm việc tốt. Yếu tố bằng cấp hay thâm niên công tác không còn là yếu tố cạnh tranh trong các doanh nghiệp mới năng động này. Tuy nhiên, đây cũng là một thực trạng cho thấy chất lượng đào tạo của hệ thống giáo dục của tỉnh chưa mạnh, những sinh viên có bằng cấp đầy đủ khi ra trường chưa thể dùng tấm bằng mình đã phấn đấu 4 – 5 năm để làm bằng chứng cho năng lực bản thân, doanh nghiệp cũng phải đầu tư không ít công sức để đào tạo lại nhân viên mới để phù hợp với nhu cầu thực tế kinh doanh của doanh nghiệp mình.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến việc khen thưởng, thăng cấp, đề bạt trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng (Nguồn: phụ lục 2) 2. Góc độ chủ nghĩa cá nhân 26 Theo nghiên cứu của Hofstede, các quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc có chỉ số chủ nghĩa cá nhân tương đối thấp (khoảng từ 20 đến 40 điểm), nghĩa là chủ nghĩa cá nhân ở các quốc gia này không phổ biến.
Việt Nam là nước có nhiều điểm tương đồng và địa lý, lịch sử, xã hội, kinh tế, văn hóa với những quốc gia này nên ta có thể rút ra kết luận, xét trên mặt bằng chung, người Việt Nam coi trọng chủ nghĩa tập thể nhiều hơn, tức có tính cộng đồng mạnh hơn là tính cá nhân. Việt Nam đi lên từ một nước thuần nông, nền văn hóa lúa nước khiến con người phải dựa vào nhau để sinh tồn, đó chính là cơ sở hình thành tâm lý cộng đồng của người Việt. Đặc trưng của tỉnh Lâm Đồng cũng xuất phát từ một vùng nông nghiệp nghèo khó, sau giải phóng trở thành khu kinh tế mới của cả nước, nên tâm lý tập thể vẫn có vị trí rất quan trọng trong tiềm thức của cư dân tại đây. Các câu hỏi 2, 5, 6, 8 trong phiếu khảo sát được dùng để đo lường góc độ này.