Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NHIỆM VỤ CỦA CHI NHÁNH NGAN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỊA PHƯƠNG.1 KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM. Sự ra đời của Ngân hàng Nhà nước Việt nam 1. Khái niệm Ngân hàng Trung ương Hệ thống ngân hàng hiện nay được chia làm hai hệ thống chính, đó là Ngân hàng Trung ương và các ngân hàng trung gian. Ngân hàng Trung ương thực hiện trách nhiệm về quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ va ngân hàng, thực hiện chức năng phát hành tiền và là ngân hàng của các ngân hàng.
Ngân hàng trung gian thực hiện chức năng kinh doanh về tiền tệ, lấy lợi nhuận làm mục tiêu hàng đầu và kinh doanh trên phương châm đi vay để cho vay. Ngày nay trên thế giới, tất cả các nước dù lớn hay nhỏ, dù chế độ chính trị giống hay khác nhau đều có Ngân hàng Trung ương. Tất cả các ngân hàng này đều có một điểm chung nhất là đóng vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát và điều tiết mức cung ứng tiền tệ cũng như các vấn để liên quan đến tiền tệ, quản lý hoạt động của hệ thống tài chính, tiền tệ trong nước và thực hiện nhiều nhiệm vụ đối với Chính phủ. Từ những chức năng cũng như mục đích cần đạt được của Ngân hàng Trung ương mà người ta đã đưa ra các định nghĩa chung về Ngân hàng Trung ương như sau: Ngân hàng Trung ương là cơ quan quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, được độc quyền phát hành tiền và đóng vai trò là ngân hàng của các ngân hàng trong một nước.
Sự ra đời của Ngân hàng Trung ương xuất phát từ yêu cầu ổn định tiền tệ, yêu cầu Nhà nước phải can thiệp trực tiếp vào lĩnh vực này để đảm bảo sự ổn định và phát triển một cách an toàn hệ thống ngân hàng trong cả nước. Vì vậy đứng trên giác độ đó người ta có thể đưa ra khái niệm khác, đó là : Ngân hàng Trung ương là một tổ chức công quyển được thành lập theo pháp luật của mỗi nước nhằm đáp ứng được những yêu cầu Nhà nước phải can thiệp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị đồng tiền, đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn có hiệu quả, phục vụ cho nên kinh tế phát triển theo mục tiêu đã định. Ở Việt nam, theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 12.1997 và có hiệu lực từ 1.1998, Ngân hàng Trung ương được định nghĩa như sau: Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ và là Ngân hàng Trung ương của nước Công hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Định nghĩa này đã khái quát 2 nội dung: Thứ nhất: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khẳng định Ngân hàng Việt Nam là cơ quan của Chính phủ trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Nói cách khác Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được thiết lập theo mô hình Ngân hàng Trung ương trực thuộc Chính phủ, không phải độc lập với Chính phủ như một số nước trên thế giới. Thứ hai: Luật Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam khẳng định Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Do đó Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam có chức năng giống như chức năng của Ngân hàng Trung ương các nước trên thế giới. Đó là Quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ ngân hàng, độc quyển phát hành tiền, Ngân hàng của các ngân hàng.
Đặc điểm ra đời của Ngân hàng Quốc gia Việt nam. Ngân hàng Quốc gia Việt nam mà đến năm 1960 đổi tên thành N gần hàng Nhà nước Việt nam cho phù hợp với Hiến pháp năm 1959 thành lập ngày 6.1951 theo sắc lệnh 15/SL của Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hòa. Ngân hàng Quốc gia Việt nam ra đời trong bối cảnh không giống như sự ra đời của Ngân hàng Trung ương các nước trên thế giới. Một là : Sự ra đời của ngân hàng Trung ương các nước xuất phát từ sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại cả về quy mô và số lượng, xuất phát từ sự phát triển nền kinh tế và sự cạnh tranh gay gắt đòi hỏi Nhà nước phải can thiệp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ và hoạt động ngân hàng mà thành lập Ngân hàng Trung ương thì ngân hàng Quốc gia Việt nam ra đời hoàn toàn mới theo yêu cầu quản lý kinh tế — xã hội và công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đòi hỏi.
Việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt nam không phải là kết quả của tiến trình lịch sử ra đời của Ngân hàng Trung ương giống như các nước trên thế giới. Do đó, Ngân hàng Quốc gia Việt nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện các nghiệp vụ của mình. Đặc biệt là ngay từ lúc mới thành lập. Hai là: Ngân hàng Quốc gia Việt nam ra đời trong bối cảnh nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất tự cung tự cấp là chủ yếu, chiến tranh ác liệt, kinh tế, tài chính đang có những khó khăn gay gắt, nạn lạm phát trầm trọng, lưu thông tiền tệ đang trong tình trạng bị chia cắt.
Ba là: Hệ thống kinh tế Xã hội Chủ nghĩa thế giới đã hình thành, cách mạng Việt nam đã trở thành một bộ phận của cách mạng Xã hội Chủ nghĩa thế giới. Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt nam trong việc tiếp thu kinh nghiệm và sự giúp đỡ của các nước Xã hội Chủ nghĩa. Chức năng Ngân hàng Nhà nước Việt nam. Chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt nam được thay đổi theo từng giai đoạn Cách mạng và phát triển nền kinh tế của Việt nam.
Trong giai đoạn đầu ngày mới thành lập, Ngân hàng Quốc gia Việt nam vừa thực hiện chức năng của Ngân hàng Trung ương vừa thực hiện chức năng kinh doanh của Ngân hành thương mại. Đó là : - Phát hành giấy bạc, quản lý tiền mặt và điêu hòa lưu thông tiển tệ - Huy động vốn của nhân dân, điều hòa và mở rộng tín dụng để phát triển sản xuất. - Quản lý ngoại hối, thanh toán các khoản giao dịch với nước ngoài. Trong giai đoạn dài của việc thực hiện cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, phù hợp với cơ chế đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo mô hình ngân hàng một cấp.
Đặc biệt là từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3 năm 1960, đất nước bước vào một thời kỳ mới với nhiệm vụ chiến lược là : Thứ nhất : Tiến hành cách mạng Xã hội Chủ nghĩa và xây dựng Xã hội Chủ nghĩa ở miền Bắc. Thứ hai : Đấu tranh giải phóng miễn Nam, thống nhất đất nước. Đó là 2 nhiệm vụ quan trọng bậc nhất đối với cách mang Viét nam hic bấy giờ. Do đó hoạt động của hệ thống ngân hàng cũng hướng tập trung vào 2 nhiệm vụ chiến lược đó.
Để tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển mạnh mẽ về cơ cấu tổ chức và các chức năng hoạt động, ngày 16/10/1961 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định 171/CP. Theo Nghị định đó hoạt động của ngân hàng trong giai đoạn này bao gồm một hệ thống tổ chức từ Trung ương xuống cấp tỉnh, Thành phố và tới các quận huyện. - Hệ thống ngân hàng này có khả năng bao quát toàn bộ hoạt động kinh tế và đóng vai trò ba trung tâm, + Trung tâm tiền mặt. + Trung tâm thanh toán.
+ Trung tâm tín dụng. Vì hệ thống ngân hàng một cấp cho nên hệ thống Ngân hàng Nhà nước vừa là cơ quan quản lý Nhà nước vừa là một doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và thực hiện các chức năng nhiệm vụ sau đây : + Độc quyền phát hành tiển, quản lý tiền mặt, tổ chức kế hoạch hóa và điều hòa lưu thông tiển tệ. + Huy động, tập trung và phân phối lại vốn tiển tệ trong xã hội phục vụ cho nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế theo kế hoạch của Nhà nước. + Tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt trong nên kinh tế quốc dân.
+ Quản lý và cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo chủ trương kế hoạch của Nhà nước. + Quản lý quỹ Ngân sách Nhà nước. + Kiểm soát chỉ tiêu quỹ tiền lương của các khách hàng, là tổ chức kinh tế quốc doanh. + Quản lý ngoại hối, hoạt động tín dụng và thanh toán quốc tế.
Với vai trò và chức năng của Ngân hàng Nhà nước theo mô hình một cấp trên đây, ta thấy chức năng tương đối tổng hợp bao trùm lên toàn bộ hoạt động của nền kinh tế và phù hợp với yêu cầu của cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, bao cấp. Tu nam 1288, hệ thống ngân hàng Việt nam đã bước sang giai đoạn mới theo cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước. + Cơ sở cho đổi mới toàn diện hoạt động ngân hàng là chủ trương đối mới cơ chế quản lý kinh tế theo tỉnh thần Đại hội Đảng lần thứ VI, đó là xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng nên kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nha nước. Trong đó đối mới hoạt động ngân hàng được coi là mũi đột phá đầu tiên trong công cuộc cách mạng đó.
+ Từ chủ trương lớn của Đại hội Đảng VI, Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định số 218/QĐÐ ngày 3/8/1987. Thực chất của quyết định đó là cho phép điểm làm thử việc đổi mới hoạt động kinh doanh ngân hàng. Kết quả là: những chỉ nhánh được chọn thí điểm đã thu được một số kinh nghiệm và đã gợi lên những van dé mdi phat sinh để có sự điêu chỉnh phương án đổi mới. Đây là bước khởi động cho công cuộc đổi mới ngân hàng ở Việt nam trong giai đoạn mới sau này.
Cụ thể là : từ kết quả của cuộc thí điểm trên đây, Nghị định 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính Phủ ra đời và được coi là ngòi nổ đầu tiên có ý nghĩa cách mạng trong công cuộc đổi mới hệ thống ngân hàng và hoạt động ngân hàng. Bởi vì : Thứ nhất : Hệ thống ngân hàng được chuyển từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp. Thông qua đó tách bạch rõ chức năng quản lý Nhà nước và chức năng kinh doanh. Trong đó : - Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và Ngân hàng.