CHƯƠNG 1. TỐNG QUAN VE BÁO CHÍ VÀ CÔNG CHÚNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI LÂM ĐỒNG 1. Dân tộc và công chúng dân tộc thiểu số tại Lâm Đồng 1. Khái niệm công chúng DTTS 1.
Dân tộc Stephen Harold Riggins (1992) trong công trình Ethnic Mỉnorỉty Media: An International Perspective (Truyền thông DTTS trong bối cảnh quốc tế ) đã tổng hợp một số khái niệm về dân tộc từ nhiều nhà nghiên cứu khác nhau. Theo ông, dân tộc (ethnic) “chỉ những người cảm nhận mình như là một cộng đồng nhờ sự giống nhau ở văn hóa, tổ tiên, ngôn ngữ, lịch sử, tôn giáo hay phong tục. Không phải nghĩa là họ hội tụ t ất cả các khía cạnh này, mà chỉ là m ột hoặc vài đ ặc điếm có thể được chọn là biểu tượng nhất tạo nên b ản sắc tập thể” [58, tr. Theo Herberg (1989), thuật ngữ chính xác hơn đáng lẽ phải gọi là “nhóm tôn giáo - dân tộc - chủng tộc” (ethno - racial - religious group) nhưng vì sự đơn giản nên người ta chỉ gọi là dân tộc.
Cần lưu ý rằng dân tộc không phải là một từ đồng nghĩa với thiểu số” [58, tr. Người bình thường có thể nghĩ rằng dân tộc không thể thay đổi trong cuộc sống, được xác định từ khi sinh ra. Tuy nhiên, theo Anderson (1983) “các nghiên cứu hiện đại có xu hướng khái niệm hóa dân tộc như một công trình xã hội, một vấn đề về bản sắc được thay đổi theo thời gian và trờ thành một c ộng đồng trong tiềm thức chứ không hẳn hoàn toàn cố định” [58, tr. Ở nước ta, thuật ngữ dân tộc được hiểu theo hai nghĩa khác nhau.
Nghĩa thứ nhất được hiểu là quốc gia dân tộc (nation), phân biệt quốc gia này với quốc gia khác, còn nghĩa thứ hai là thành phần dân tộc (ethnic), phân biệt tộc người này với tộc người khác. Theo Từ điển Tiếng Việt (1992) thi dân tộc là "cộng đồng người hinh thành trong trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hóa và tính cách” [33, tr. với nghĩa tộc người thì dân tộc là “hình thái đặc biệt của một tập đoàn xã hội xuất hiện không phải do ý nguyện của con người mà là kết quả của quá trình tự nhiên, lịch sử [10, tr. Hiện nay “trên thế giới có 200 quốc gia dân tộc; trong đó có tới 180 quốc gia đa dân tộc” [19, tr.
Trong một quốc gia đa dân tộc, các thành phần dân tộc có trình độ phát triển không đồng đều. Vì vậy, chính phủ các quốc gia đa dân tộc đều phải xây dựng chính sách dân tộc n hằm rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các thành phần dân tộc. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, gồm 54 dân tộc cùng chung sống với các đặc điềm nối bật như “cư trú phân tán và xen kẽ nhau, đoàn kết dựng nước và giữ nước, quy mồ dân số và trình độ phát triến kinh tế - xã hội không đồng đều, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng của nền văn hóa Việt Nam” [19, tr. Dân tộc thiếu số Đe hiể u thuật ngữ DTTS, trước hết cần hiểu về nhóm người thiêu số (Minority group).
Joseph F Healey (1972) dùng khái niệm này để đề cập đến “những nhóm người g ặp một số b ất lợi so với các thành viên khác trong xã h ội thống trị” [57, tr. George Ritzer (2015) cho rằng t hành viên nhóm thiểu số thường dựa trên sự “khác biệt về các đặc điểm như: giới tính, dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, khuyết tật, khuynh hướng tình dục hoặc nhận dạng giới tính. Một người có thể thuộc một hay nhiề u nhóm thiếu số. Thành viên của các nhóm thiểu số dễ bị đối xử phân biệt ở các quốc gia và xã hội nơi họ sinh sống trong nhiều lĩnh vực bao gồm nhà ở, việc làm, y tế và giáo dục.
Dân tộc thiếu số (Ethnic Minority) theo cách hiểu trê n là nhóm ít người có sự khác biệt về chủng tộc ờ xã hội họ đang sống. Trong luật pháp quốc tế, khồng có định nghĩa chung về DTTS. Mặc dù vậy, việc bảo vệ nhóm DTTS đã được nêu trong tuyên bố của Liên Họp Quốc về Quyền của những người có sắc tộc, tôn giảo và ngôn ngữ thiểu số. Theo đó, họ sẽ được bảo vệ bằng nhiều cách khác nhau và quan trọng là được trao quyền tự quyết định các vấn đề của bản thân.
Hội đồng Châu Âu đề xuất định nghĩa về các quốc gia DTTS trong Hiến chương châu Ầu về Khu vực DTTS theo Công ư ớc khung Bảo vệ DTTS. Trong đó họ đề cập đến DTTS là nhóm người có những yếu tố sau: 1. Số lượng ít hon phần còn lại trong dân số của khu vực 2. Không ở vị trí thống trị 3.
Văn hóa, ngôn ngữ, tồn giáo, chủng tộc khác với phần lớn dân số 4. Những thành viên có ý chí duy trì các đặc trưng, tên gọi và sự khác biệt ở nhóm của họ 5. Là công dân của khu vực với tư cách là nhóm ít người 6. Là những thành viên có sự hiện diện lâu dài trên lãnh thổ [54].
Ở Việt Nam, DTTS là thuật ngữ phân biệt với dân tộc đa số khi được xét về mặt số lượng dân cư. Theo Từ điển Tiếng Việt (1992) thì DTTS là “dân tộc chiếm số ít, so với dân tộc chiếm số đông nhất trong nước có n hiều dân tộc” [33, tr. Nghị định số 05/2011/NĐ-CP (2011) về Công tác dân tộc xác định DTTS là “những dân tộc có dân số ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” [63]. Việt Nam hiện nay dân tộc Kinh có số lượng đông nhất (chiếm 85,73%) nên được gọi là dân tộc đa số,53 dân tộc còn lại là DTTS (chiếm 14,27%).
Ngoài ra xuất phát từ tình hình thực tiễn về dân số, địa bàn cư trú của các dân tộc trong hoạch định chính sách thì Đảng và Nhà nước ta còn phân loại thêm một thuật ngữ là DTTS rất ít người. Đây là những dân tộc có dân số dưới 10.000 người, cư trú ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, khu vực giao thông khó đi lại, cơ sờ kinh tế - kỹ thuật thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao. Việt Nam có 16 DTTS rất ít người, trong có có 5 dân tộc dưới 1000 người thuộc DTTS đặc biệt ỉt người [63]. Nghị định trên cũng đề cập đến Vùng dân tộc thiêu số để chỉ những địa bàn đông các DTTS cùng sinh sống ốn định thành cộng đồng trên lãnh thố nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Lâm Đồng là tỉnh có 43 dân tộc anh em cùng chung sống với hơn 300 nghìn người DTTS. Như vậy, Lâm Đồng được xem là vùng DTTS. Có một số tác giả gọi DTTS bằng thuật ngữ “nhóm người yếu thế”, tuy nhiên theo Forsythe (1989) “không nên nghĩ rằng người thiểu số là những người yếu đuối, mong manh. Các định nghĩa như vậy vẫn còn nhiều yếu kém, mơ hồ và không thể chối cãi nó là nguồn gốc gây nên những sự xung đột nhạy cảm nếu không tìm hiểu kỹ” [58, tr.
Khác với nhiều quốc gia khác trên thế giới, Nhà nước ta luôn hướng tới sự bình đẳng cho người DTTS, tạo điều kiện cho người dân phát triển toàn diện. Công chúng DTTS Công chúng DTTS là thuật ngữ được dùng để chỉ những người DTTS trong môi trường truyền thông, cụ thể ở nghiên cứu này là trong mối quan hệ với báo chí. Theo tác giả Nguyễn Văn Dững trong công trình Cơ sở lỷ luận báo chí, “công chúng báo chí là quần thể dân cư hay nhóm đối tượng mà báo chí gây ảnh hưởng hoặc hướng vào để gây ảnh hưởng. Như vậy công chúng báo chí được xem xét trong mối quan hệ với sản phẩm báo chí, với cơ quan báo chí và với nhà báo” [7, tr 139].
Trong cuốn Xã hội học báo chí tác giả Trần Hữu Quang lưu ý cần phân biệt sự khác nhau giữa công chúng với đám đông và đại chúng. Công chúng của một tờ báo được hiểu là “đông đảo độc giả thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau, đang sinh sống và làm việc tại nhiều nơi khác nhau (không tụ tập cùng một chỗ) nhưng cùng đọc tờ báo này. Công chúng có những đặc trưng chính là tính quảng đại (đông đảo), tính không đồng nhất (bao gồm rất nhiều giới và tầng lớp khác nhau ) và tính nặc danh (không ai biết ai). Theo Denis McQuail, công chúng truyền thông (audiences) xuất phát từ xã hội và từ chính các phương tiện truyền thông.
Nghĩa là do nhu cầu của dân chúng nên xuất hiện nguồn cung cấp tin thích họp hoặc do chính phương tiện truyền thông ra đời tạo nên một lóp công chúng mới. McQuail chia công chúng truyền thông làm bốn loại. Một trong bốn loại đó là nhóm công chủng của một kênh hay một nội dung cá bỉệt [55, tr. Theo lý thuyết này thì công chúng DTTS xuất hiện khi họ có nhu cầu được cung cấp thông tin bằng ngôn ngữ của chính mình.
Lúc đó, kênh PT, TH và tờ báo tiếng DTTS ra đời vừa đáp ứng nhu cầu đó, đồng thời tạo ra một lớp công chúng riêng biệt gắn với các phương tiện truyền thông này. Như vậy, công chúng DTTS chính là độc giả, khán giả, thính giả của một tờ báo hay chương trình PT, TH bằng tiếng DTTS dành riêng cho họ. Cụ thể trong đề tài này là những người DTTS sống tại Lâm Đồng đang theo dõi Báo ảnh DT &MN, chương trình TH-PT tiếng Cơ Ho, Chu Ru của Đài PT-TH Lâm Đồng. Đặc điểm công chúng DTTS tại Lâm Đồng 1.
Khái quát về tỉnh Lâm Đồng Về điều kiện tự nhiên : Lâm Đồng là tỉnh miền núi nằm ở phía Nam Tây Nguyên; nằm trên 3 cao nguyên và là khu vực đầu nguồn của 7 hệ thống sông lớn, địa hình tương đối phức tạp chủ yếu là núi cao đồng thời có những thung lũng nhỏ bằng phẳng tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, thực vật, động vật. và những cảnh quan kỳ thú cho Lâm Đồng. Lâm Đồng nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ cao, trong năm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô thu ận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng và phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc ôn đới [75, tr. Về đặc đỉêm dân cư: Lâm Đồng là vùng đất mới có sức thu hút dân cư trong cả nước đến lập nghiệp, quần thể dân cư ở đây chưa ổn định và liên tục biến động, hiện tượng di dân tự do trong những năm qua vẫn còn lớn.