Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG QUAN HỆ LAO ĐỘNG HÀI HÒA, ỔN ĐỊNH VÀ TIẾN BỘ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm cơ bản 1. Doanh nghiệp Thuật ngữ doanh nghiệp được sử dụng đầu tiên ở nước ta từ năm 1948, theo tinh thần của Sắc lệnh số 104/SL ngày 01.1948 về doanh nghiệp quốc gia. Trong suốt thời kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thuật ngữ này bị lãng quên, các thuật ngữ thay thế thường được sử dụng là xí nghiệp, đơn vị kinh tế, cơ quan kinh tế.
Đến khi ở Việt Nam chúng ta bắt đầu xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thuật ngữ doanh nghiệp mới được sử dụng trở lại. Theo tinh thần của Luật công ty năm 1990 hay Luật doanh nghiệp năm 1999, thuật ngữ doanh nghiệp được xác định là một thực thể pháp lí được thành lập và đăng kí kinh doanh nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Theo nhà Kinh tế học người Pháp - M. Francois Peroux, tác giả quan niệm: “Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của Công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy”.A Caillat (1992), “Kinh tế doanh nghiệp”, Tài liệu dịch, doanh nghiệp được định nghĩa theo quan điểm phát triển như sau: “Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải.
Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được” [14, tr.A Caillat (1992), “Kinh tế doanh nghiệp”, Tài liệu dịch, doanh nghiệp được định nghĩa theo theo quan điểm hệ thống như sau: 10 “Doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu. Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân sự” [14, tr. Quốc hội (2020), Bộ Luật Doanh nghiệp quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [26, tr. Có thể thấy rằng dù định nghĩa ở bất kỳ góc độ, quan điểm nào thì hình thức phổ biến nhất của doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế và mục đích chủ yếu nhất của nó chính là kinh doanh.
Quan hệ lao động trong doanh nghiệp Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã đưa ra định nghĩa về QHLĐ: “Những mối quan hệ cá nhân và tập thể giữa NLĐ và NSDLĐ tại nơi làm việc, cũng như các mối quan hệ giữa các đại diện của họ với nhà nước. Những mối quan hệ như thế xoay quanh các khía cạnh luật pháp, kinh tế, xã hội học và tâm lý học và bao gồm cả những vấn đề như tuyển mộ, thuê mướn, sắp xếp công việc, đào tạo, kỷ luật, thăng chức, buộc thôi việc, kết thúc hợp đồng, làm ngoài giờ, tiền thưởng, phân chia lợi nhuận, giáo dục, y tế, vệ sinh, giải trí, chỗ ở, giờ làm việc, nghỉ ngơi, nghỉ phép, các vấn đề phúc lợi cho người thất nghiệp, ốm đau, tai nạn, tuổi cao và tàn tật” [2]. Giáo sư Loic Cadin – Đại học Thương mại Paris cho rằng: “Quan hệ lao động nói tới một tập hợp các quy tắc và chính sách thực tế cấu thành nên các mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động với sự điều chỉnh và can thiệp về mặt pháp lý của Nhà nước trong một doanh nghiệp, một ngành, một vùng hay trong một quốc gia”. Quốc hội (2019), Bộ luật Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, 11 các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể” [28, tr. Tùy thuộc quan niệm về QHLĐ, đa số đều quan niệm rằng “QHLĐ là một hệ thống gồm nhiều chủ thể tương tác lẫn nhau trong quá trình lao động sản xuất”. QHLĐ không phải là quan hệ thuần nhất mà là một tập hợp gồm nhiều mối quan hệ của giữa các chủ thể trên thị trường lao động thông qua các cơ chế hai bên, ba bên. Chủ thể của quan hệ lao động Có ba nhóm chủ thể cấu thành quan hệ lao động.
Một là, NLĐ và tổ chức đại diện NLĐ (Công đoàn). Hai là NSDLĐ. Ba là nhà nước. Trong mối quan hệ này, người lao động và người sử dụng lao động thương lượng, thoả thuận, nhằm đạt được những mục tiêu mà mỗi bên mong muốn.
Về phần nhà nước có chức năng thiết lập, xây dựng, ban hành hệ thống pháp luật, quy định, thể chế, quy chế. Đồng thời áp dụng các biện pháp để NLĐ/đại diện NLĐ và NSDLĐ phải tôn trọng và tuân thủ. Trong quá trình thực hiện, NLĐ và NSDLĐ có thể sẽ phát hiện những điểm bất hợp lý hoặc không còn phù hợp, cần phản hồi lại để nhà nước xem xét và điều chỉnh kịp thời. Về NLĐ - là những người cung cấp sức lao động, làm việc trong doanh nghiệp, dưới sự chỉ đạo, điều hành của NSDLĐ, tham gia, kí kết HĐLĐ.
Có trách nhiệm thực hiện, cung cấp công việc theo giao kết, được NSDLĐ cung cấp các phương tiện, công cụ dụng cụ cần thiết để hoàn thành công việc và nhận thù lao theo HĐLĐ quy định. Về tổ chức đại diện cho NLĐ - là Công đoàn. Đây là tổ chức đại diện cho người lao động trong phạm vi QHLĐ, có cơ cấu và mục tiêu rõ ràng là bảo vệ quyền lợi, lợi ích của NLĐ một cách hợp pháp và chính đáng, đồng thời giúp đỡ họ phát triển ý thức về nghề nghiệp, ý thức kỷ luật; tham gia và quản lý doanh nghiệp, quản lý nhà nước, thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển. 12 Có thể nói, Công đoàn là biểu tượng cụ thể của sự đoàn kết, của mối liên hệ giữa người với người trong quá trình làm việc.
Về NSDLĐ, trong QHLĐ khi có NLĐ thì phải có NSDLĐ. Trong nền kinh tế cũ, NSDLĐ là người sở hữu vốn hay có thể hiểu là giới chủ. Tuy nhiên, ở nền kinh tế hiện đại ngày nay, NSDLĐ không nhất thiết phải là chủ của một doanh nghiệp, họ chỉ cần có các quyền như tuyển dụng NLĐ, chấm dứt HĐLĐ giữa hai bên, sử dụng và phân công công việc tới NLĐ. Vậy nên hiện nay, trong Luật pháp quy định của một số nước, người nắm chức vụ quản lý đều được gọi là NSDLĐ, là đại diện cho đơn vị hay tổ chức để tham gia vào các cuộc thương lượng tập thể với Công đoàn.
Về nhà nước, trong hệ thống QHLĐ, chính phủ được hiểu như đối tác, có chức năng, nhiệm vụ, đồng thời đại diện cho quốc gia và cộng đồng đảm bảo quyền và lợi ích chung. Họ bao gồm các thành viên trong hệ thống nhà nước, nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân trong một thể chế chính trị. Họ tham gia vào QHLĐ với tư cách là đại diện cao nhất cho lợi ích của quốc gia, của toàn thể cộng đồng, xã hội. Đồng thời họ điều hòa được mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp Xây dựng QHLĐ là một quá trình trong đó chủ thể tham gia QHLĐ tiến hành các hoạt động giữa các bên nhằm mục đích đạt được những lợi ích mà hai bên cùng mình muốn một cách bình đẳng và hài hòa. Để đạt được trạng thái cân bằng, hài hòa đó, các chủ thể sẽ thường xuyên thực hiện và tuân thủ đó là: tham gia thỏa thuận, đóng góp ý kiến; tham gia ký kết HĐLĐ; tham gia thực hiện HĐLĐ; tham gia vào các buổi thương lượng, ký kết và thực hiện TƯLĐTT; thực hiện tổ chức, tham gia đối thoại xã hội tại nơi làm việc; cùng đóng góp và xây dựng, đề đạt các biện pháp xử lý, phòng ngừa và giải quyết tranh chấp lao động. 13 QHLĐ lành mạnh theo Tổ chức ILO định nghĩa: “là mối quan hệ trong đó NSDLĐ và NLĐ (tổ chức đại diện NLĐ) có xu hướng hợp tác thay vì đối đầu, tôn trọng lẫn nhau, có vị trí ngang bằng nhau, quyền lợi của hai bên đạt được đảm bảo sự cân đối và làm thỏa mãn nhu cầu của mỗi bên, từ đó tạo ra sự tin tưởng của chủ thể này đối với chủ thể còn lại của QHLĐ”. Để làm rõ hơn khái niệm QHLĐ hài hòa, ổn định và tiến bộ, tác giả khái quát qua về ý nghĩa nội dung các cụm từ.
- Hài hòa: là sự kết hợp cân đối giữa các yếu tố, các thành phần, gây được ấn tượng về cái đẹp, cái hoàn hảo. Khi hình thành lên mối QHLĐ, NSDLĐ thường quan tâm và chú trọng các vấn đề liên quan tới lợi nhuận, tới năng suất lao động, NLĐ mong muốn về lợi ích, quyền lợi, môi trường lao động và mức thù lào, tiền lương trả công tương xứng với công sức lao động mà họ đóng góp, bỏ ra. Trên thực tế hiện nay, thù lao của NLĐ và lợi nhuận doanh nghiệp luôn tỉ lệ nghịch. Để có thể tăng mức lợi nhuận thì bắt buộc NSDLĐ phải có những phương án cắt giảm các chi phí trong sản xuất, trong đó bao gồm thù lao chi trả cho NLĐ nhằm để đảm bảo lợi nhuận.
Vì vậy, chỉ khi nào lợi ích của NLĐ và Doanh nghiệp đạt mức cân bằng tương đối thì QHLĐ mới có thể coi là hài hoà. - Ổn định: là trạng thái yên ổn, không còn có những biến động, thay đổi đáng kể. Ổn định trong QHLĐ được hiểu là sự duy trì về trạng thái, biến động về quyền và lợi ích giữa NSDLĐ và NLĐ một cách đều đặn, ít biến động. Đối với NSDLĐ, điều quan trọng nhất để quyết định sự phát triển, tồn tại của một doanh nghiệp chính là sự ổn định về tình hình sản xuất kinh doanh.