CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Khái quát chung về quan hệ lao động 1. Khái niệm Trong Kinh tế học chính trị Mác – Lênin có viết: “Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người”.
Bên cạnh đó khoa Kinh tế lao động – Trường Đại học Kinh tế quốc dân cũng đã phân tích rằng: “Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích phục vụ nhu cầu của con người“. Cơ bản hai phân tích này là tương đối giống nhau nên chúng ta có thể hiểu Lao động là hoạt động có mục đích, ý thức của con người để tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội. Lao động luôn được xem là vấn đề nổi bật toàn cầu, ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của mỗi quốc gia.4 Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì Quan hệ lao động (QHLĐ) là quan hệ giữa người lao động (NLĐ), tập thể NLĐ với người sử dụng lao động (NSDLĐ) và tổ chức đại diện NSDLĐ, được xác lập trên cơ sở pháp luật lao động bao gồm các tiêu chuẩn về lao động, cơ chế xác lập và vận hành QHLĐ, thiết chế giải quyết tranh chấp lao động, vai trò của các bên trong QHLĐ.5 Theo khoản 5 Điều 3 Bộ luật Lao động 2019, quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền.6 Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.
(khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động 2019)7 Chấm dứt quan hệ lao động là không còn xảy ra sự phát sinh quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động. Chấm dứt quan hệ lao động có thể 4 Đinh Thùy Dung (2022), Lao động là gì? Đặc điểm, ý nghĩa, cấu trúc hoạt động lao động?. 5 ILO (2018), Báo cáo Quan hệ lao động. 6 Khoản 5 Điều 3 (2019), Bộ Luật lao động, Hà Nội.
7 Khoản 1 Điều 13 (2019), Bộ Luật lao động, Hà Nội. 9 do những sự biến pháp lí hoặc những sự kiện xảy ra do ý chí của con người (hành vi). Những sự kiện này có thể xảy ra do ý chí của hai bên chủ thể hoặc một trong hai bên chủ thể và cũng có thể do người thứ ba tác động. Theo đó, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ lao động đã được xác lập.
Sự biến pháp lí làm chấm dứt quan hệ lao động là trường hợp người lao động chết. Trong trường hợp này quan hệ lao động đương nhiên chấm dứt.8 Trong mỗi mối quan hệ đều sẽ có vấn đề tranh chấp xảy ra, bao gồm cả quan hệ lao động. Tranh chấp trong quan hệ lao động được hình thành nên khi quan hệ l ao động phát sinh xung đột về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động, giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau, hoặc bất kỳ mâu thuẫn nào xảy ra từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Đặc điểm + Chủ thể của quan hệ lao động là người lao động và người sử dụng lao động Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 thì người lao động là người người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động.
Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật này. Tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. + Trong quan hệ lao động, người lao động luôn phụ thuộc vào người sử dụng lao động Theo pháp luật, người sử dụng lao động có quyền tổ chức, quản lý quá trình lao động của người lao động và người lao động phải chấp hành. Các yếu tố cấu thành nên quan hệ sản xuất luôn chịu sự kiểm soát của quan hệ sở hữu mà người sử dụng lao động lại có quyền sở hữu tài sản.
Bên cạnh đó, người sử dụng lao động đã bỏ tiền ra 8 Lê Thị Hằng (2023), Chấm dứt quan hệ lao động là gì? Căn cứ phát sinh, chấm dứt quan hệ lao động?. 9 Nguyễn Hữu Phước (2022), Quan Hệ Lao Động và Tranh Chấp Lao Động. 10 để mua sức lao động của người lao động, để cho việc sử dụng sức lao động đó đạt hiệu quả thì người sử dụng lao động phải quản lý nó một cách khoa học và hợp lý. Về mặt lợi ích kinh tế, giữa người sử dụng lao động và người lao động vừa có sự mâu thuẫn, vừa có sự thống nhất phụ thuộc lẫn nhau.
Ở khía cạnh nhất định, người sử dụng lao động luôn muốn giảm tới mức thấp nhất các khoản chi phí trong đó có vấn đề tiền lương của người lao động để tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, tiền lương và thu nhập trong quan hệ lao động lại là nguồn sống chủ yếu của người lao động. Như vậy có thể thấy, sự phụ thuộc của người lao động là đặc điểm quan trọng để căn cứ nhằm xác định đối tượng điều chỉnh của luật lao động và đồng thời phân biệt quan hệ lao động với các quan hệ tương đồng khác. + Quan hệ lao động chứa đồng bộ các yếu tố kinh tế và xã hội Biểu hiện của đặc điểm này đó là quan hệ lao động không chỉ liên quan đến việc làm, giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp, bảo đảm đời sống của người lao động, giảm thiểu các tình trạng tệ nạn xã hội…mà còn liên quan đến nguồn nhân lực, thu hút đầu tư, tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Khái quát các yếu tố cấu thành của quan hệ lao động 1. Chủ thể của quan hệ lao động - Người lao động Người lao động được hiểu là một cá nhân, có mong muốn và trực tiếp tham gia xác lập, thực hiện quan hệ pháp luật giữa người lao động và người sử dụng lao động. Một người lao động “có khả năng lao động” mới được tuyển chọn vào quá trình lao động. “Khả năng lao động” có thể được thể hiện qua năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
Một người được pháp luật quy định cho các quyền và buộc phải gánh vác những nghĩa vụ lao động thì đó chính là năng lực pháp luật của người lao động. Nó là loại năng lực khách quan, không phụ thuộc ý chí chủ quan của người lao động hay người sử dụng lao động. Năng lực pháp luật lao động thường được khởi nguồn từ hiến pháp quốc gia, được thể hiện thông qua hệ thống các quy định của pháp luật. Ngoài mặt người lao động vừa có thể thực thi được các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định.
Mặt khác, có thể đặt ra các quyền năng cụ thể cho mình mà pháp 10 Nguyễn Đức Giang (2022), Đặc điểm của quan hệ lao động. 11 luật đã ghi nhận nhằm đạt được những giá trị, những lợi ích thiết thực cho bàn thân mình, những điều đã được đặt ra khi tham gia quan hệ lao động. - Người sử dụng lao động Người sử dụng lao động có thể là cá nhân hoặc tổ chức, doanh nghiệp. Có nhiều loại đơn vị sử dụng lao động, đó là: Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; Các tổ chức xã hội; Các hợp tác xã; Các cá nhân và hộ gia đình là người Việt Nam; Các cơ quan nhà nước; Các cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài và quốc tế trên lãnh thổ Việt Nam.
Trong số các đơn vị sử dụng lao động thì các doanh nghiệp có một vị trí đặc biệt và có vai trò to lớn. Muốn tham gia quan hệ pháp luật lao động một đơn vị sử dụng lao động phải có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi. Năng lực pháp luật lao động là khả năng được pháp luật quy định cho các quyền nhất định để có thể tham gia quan hệ pháp luật lao động. Năng lực hành vi của người sử dụng lao động là khả năng của người sử dụng lao động trong việc tạo lập – gánh vác các quyền và nghĩa vụ trong quá trình tuyển dụng lao động.
Nếu năng lực pháp luật được coi như là “dòng sông pháp lý” thì năng lực hành vi của chủ sử dụng lao động như là “con thuyền” do chính họ điều khiển. Do đó, điều cần thiết đối với chủ sử dụng lao động là khả năng thực tế của chính họ chứ không phải là những quyền năng mang tính lý thuyết. Khách thể của quan hệ lao động Ngoài yếu tố chủ thể nêu trên thì khi thiết lập quan hệ pháp luật lao động với nhau, các bên đều hướng tới sức lao động của người lao động và đó chính là khách thể của quan hệ pháp luật lao động. Người sử dụng lao động hướng tới với mục đích là “mua” được sức lao động của người lao động, còn người lao động hướng tới với mục đích là “bán” được sức lao động của mình.
Cả hai bên trong mối quan hệ pháp luật này đều “hướng tới” sức lao động của người lao động với những mục đích trái chiều. Nhưng chính hai mục đích trái chiều ấy đã đặt các bên trong một mối quan hệ, buộc các bên phải có sự thống nhất nhất định trong cách hành xử. Đó chính là một trong những biểu hiện quan trọng và có tính triết học của quan hệ lao động: Sức lao động trở thành đối tượng của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của các chủ thể, là tiêu điểm thể hiện sự thống nhất và đối lập giữa các chủ thể.