Chương 1: Lý luận cơ bản về xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Dream Plastic Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Dream Plastic 9 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG QUAN HỆ LAO ĐỘNG HÀI HÒA, ỔN ĐỊNH VÀ TIẾN BỘ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về quan hệ lao động trong doanh nghiệp 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm quan hệ lao động Năm 1919, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) được thành lập đã làm thay đổi về chất của QHLĐ.
ILO đã đưa ra cách tiếp cận mới về QHLĐ: “QHLĐ hay quan hệ công nghiệp là những mối quan hệ cá nhân và tập thể giữa những nguời lao động và người sử dụng lao động tại nơi làm việc, cũng như các mối quan hệ giữa các đại diện của họ với Nhà nước. Những mối quan hệ như thế xoay quanh các khía cạnh luật pháp, kinh tế, xã hội, tâm lý học và bao gồm cả những vấn đề như tuyển dụng, thuê mướn, sắp xếp công việc, đào tạo, kỷ luật, thăng chức, buộc thôi việc, kết thúc hợp đồng, làm ngoài giờ, tiền thưởng, phân chia lợi nhuận, giáo dục, y tế, vệ sinh, giải trí, chỗ ở, giờ làm việc, giờ nghỉ ngơi, nghỉ phép, các vấn đề phúc lợi cho người thất nghiệp, ốm đau, tai nạn, tuổi cao và tàn tật” [31]. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “QHLĐ là quan hệ xã hội hình thành trong quá trình sử dụng sức lao động giữa một bên là người có sức lao động (người lao động) và một bên (cá nhân hoặc pháp nhân) là người sử dụng sức lao động” [14]. Còn theo Bộ luật Lao động của Việt Nam: “Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể” [22]. Và điều 7 khoản 5 khẳng định “Quan hệ lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau”[22]. Tuy nhiên nhiều ý kiến cho rằng Bộ luật vẫn 10 giữ nguyên cách hiểu “quan hệ lao động là quan hệ xã hội” thì xem ra khái niệm này chưa phản ảnh hết tính chất của mối quan hệ này – một mối quan hệ đặc biệt vừa mang tính xã hội vừa mang tính kinh tế. Tác giả Nguyễn Thị Minh Nhàn thì đưa ra khái niệm về QHLĐ như sau: “Quan hệ lao động là hệ thống tương tác giữa các chủ thể (người lao động hoặc tổ chức đại diện cho người lao động, người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động và Nhà nước) nảy sinh từ quá trình thuê mướn lao động để đạt được lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội dựa trên cơ sở pháp luật” [19].
Nói tóm lại, QHLĐ là một vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng của mỗi quốc gia. Các nhà nghiên cứu, các chuyên gia đã nêu lên rất nhiều khái niệm khác nhau về QHLĐ. Trên cơ sở tiếp thu các khái niệm trên, tác giả đưa ra khái niệm về QHLĐ như sau: QHLĐ là quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ hình thành trong quá trình thuê mướn nhân công, được tiến hành thông qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận giữa các bên theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau, chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động do Nhà nước ban hành. Khái niệm quan hệ lao động doanh nghiệp “QHLĐ tại đơn vị, doanh nghiệp là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ và NSDLĐ” [22].
QHLĐ doanh nghiệp là quan hệ trực tiếp giữa NLĐ với NSDLĐ (hay giữa các tổ chức đại diện của họ với nhau) trong một doanh nghiệp. Mối quan hệ này hình thành trên cơ sở các chủ thể tương tác với nhau về các vấn đề liên quan trực tiếp đến lợi ích NLĐ như tiền công, phụ cấp lương, tiền thưởng, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, việc làm và đảm bảo việc làm, an toàn vệ sinh lao động, phúc lợi xã hội, khen thưởng, kỷ luật, sa thải, chính sách đào tạo bồi dưỡng NLĐ của công ty. Khái niệm xây dựng quan hệ lao động Xây dựng quan hệ lao động được hiểu là một quá trình trong đó NSDLĐ và NLĐ hoặc tổ chức đại diện NLĐ chủ động phối hợp tiến hành các hoạt động nhằm hình thành một chỉnh thể về QHLĐ đạt được trạng thái mà cả hai bên mong muốn. Các hoạt động chủ yếu để xây dựng QHLĐ trong doanh nghiệp là: thỏa thuận, ký kết và thực hiện hợp đồng lao động; đàm phán, thương lượng, ký kết và thực hiện thỏa ước lao động tập thể, phối hợp kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ chính sách đối với NLĐ tại doanh nghiệp; đối thoại xã hội tại nơi làm việc; xây dựng các biện pháp phòng ngừa và giải quyết tranh chấp lao động và đình công.
Khái niệm quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ Hiện nay rất nhiều nước sử dụng thuật ngữ “QHLĐ lành mạnh” để chỉ về trạng thái quan hệ lao động tốt nhất sau khi hai bên nỗ lực xây dựng để đạt được. Vì vậy, để hiểu thế nào là QHLĐ hài hòa, ổn định và tiến bộ, trước hết cần hiểu QHLĐ lành mạnh theo định nghĩa của nước trên thế giới đưa ra như thế nào. Theo Tổ chức ILO, QHLĐ lành mạnh là mối quan hệ trong đó NSDLĐ và NLĐ (tổ chức đại diện NLĐ) có xu hướng hợp tác thay vì đối đầu, tôn trọng lẫn nhau, có vị trí ngang bằng nhau, quyền lợi của hai bên đạt được đảm bảo sự cân đối và làm thỏa mãn nhu cầu của mỗi bên, từ đó tạo ra sự tin tưởng của chủ thể này đối với chủ thể còn lại của QHLĐ. Vậy “QHLĐ hài hòa, ổn định, tiến bộ chính là QHLĐ lành mạnh (cân bằng về lợi ích, có sự tôn trọng, hỗ trợ và hợp tác lẫn nhau), nhưng nó hướng tới sự phát triển quan hệ ấy vì mục tiêu phát triển, tiến bộ trong tập thể nhằm ngăn ngừa tranh chấp lao động nảy sinh và đem lại lợi ích cho cả NSDLĐ và NLĐ” [24].
- Hài hòa: Khi xác lập QHLĐ, NSDLĐ hướng tới đạt được lợi nhuận còn NLĐ mong muốn đạt được mức tiền lương tương xứng với sự đóng góp sức lao động của họ và được làm việc trong một môi trường lao động tốt nhất 12 với những điều kiện lao động được đảm bảo. Về mặt nguyên tắc, lợi nhuận của doanh nghiệp và tiền lương của NLĐ được trả luôn trái chiều nhau. Doanh nghiệp muốn tăng lợi nhuận thì phải giảm chi phí sản xuất, trong đó có việc trả lương cho NLĐ ở mức thấp. Vì vậy, QHLĐ trong doanh nghiệp chỉ hài hòa khi lợi ích của hai bên cân đối với nhau.
Ngoài ra “hài hòa” ở đây còn được hiểu là thái độ, cách ứng xử giữa hai bên. NLĐ được NSDLĐ tôn trọng, tổ chức đại diện NLĐ được doanh nghiệp coi như đối tác tin cậy, hai bên hợp tác, tôn trọng, bình đẳng. - Ổn định: là duy trì thường xuyên, đều đặn, ít có biến động của những lợi ích trong đó quan trọng là lợi ích kinh tế mà các bên đã đạt được từ sự nỗ lực thỏa thuận, thương lượng. Đối với doanh nghiệp, sự ổn định của tình hình sản xuất kinh doanh là điều quan trọng nhất vì nó quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp.
Còn NLĐ khi được tuyển dụng vào làm việc trong doanh nghiệp thì “ổn định” được biểu hiện ở chỗ có đủ việc làm và được làm việc thường xuyên, có thu nhập ổn định, điều kiện làm việc không có nhiều xáo trộn, biến động. Tuy nhiên phải lưu ý rằng sự “ổn định” của QHLĐ chỉ mang tính tương đối bởi trạng thái của QHLĐ còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan và khách quan. - Tiến bộ: Trong quá trình xây dựng QHLĐ dần dần các bên có sự hiểu biết lẫn nhau nhiều hơn, có động thái tích cực hơn, tin tưởng lẫn nhau. Biểu hiện của QHLĐ tiến bộ là: NSDLĐ ngày càng quan tâm hơn đời sống vật chất và tinh thần của NLĐ, ban hành và thực thi các chính sách nhằm gia tăng lợi ích chính đáng cho NLĐ như tiền lương, phụ cấp lương, tiền thưởng, cải thiện điều kiện làm việc cho NLĐ, chú trọng việc đào tạo nguồn nhân lực, có chính sách đãi ngộ NLĐ, có các biện pháp tạo động lực cho NLĐ.
Ngược lại, NLĐ không chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân mà còn biết tôn trọng lợi ích của doanh nghiệp, từ đó sẵn sàng chia sẻ với doanh nghiệp những khó khăn, tự giác làm việc chăm chỉ, có trách nhiệm trong lao động sản xuất để tạo ra năng 13 suất lao động cao. Công đoàn cơ sở sẵn sàng đồng hành cùng doanh nghiệp, chung tay tháo gỡ những khó khăn để đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển. QHLĐ tiến bộ còn được biểu hiện ở chỗ NLĐ trong doanh nghiệp được hưởng những lợi ích ở mức cao hơn so với những quy định của pháp luật lao động. Tiến bộ là kết quả cao nhất đạt được của xây dựng QHLĐ khi nó đạt được sự hài hòa, ổn định.
Từ việc chia nhỏ thành ba khái niệm như trên có thể nêu ra cách hiểu khái quát: “Quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ là quan hệ lao động trong đó tồn tại sự hài hòa về lợi ích, có sự tôn trọng, hỗ trợ và hợp tác lẫn nhau trong thực hiện nhiệm vụ, các bên tham gia quan hệ lao động cùng phấn đấu vì lợi ích chung, vì phát triển kinh tế và ổn định xã hội” [24]. Đặc trưng của quan hệ lao động và nguyên tắc xây dựng quan hệ lao động trong doanh nghiệp 1. Đặc trưng của quan hệ lao động trong doanh nghiệp Thứ nhất, quan hệ lao động trong doanh nghiệp là mối quan hệ đặc biệt mang cả tính kinh tế và tính xã hội QHLĐ mang tính kinh tế vì nó được xác lập trong quá trình “mua - bán” sức lao động. Nhưng mặt khác QHLĐ cũng mang tính xã hội vì cả hai chủ thể này đều là những thành viên của xã hội.