Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Việt Nam là quốc gia nông nghiệp với khoảng 2/3 dân số sinh sống tại khu vực nông thôn và 67,8% lực lượng lao động xã hội làm việc trong khu vực này (theo số liệu năm 2018 của Tổng cục Thống kê). Sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn giữ vai trò then chốt đối với ổn định kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước. Trong cơ cấu tổ chức nông thôn Việt Nam, làng xã là hình thức tụ cư cơ bản, phổ biến và lâu đời nhất; là cái nôi kết tinh các giá trị văn hóa truyền thống cả về vật thể và phi vật thể.
Bước vào thời kỳ kinh tế thị trường, các vùng nông thôn đối mặt với nhiều biến động tiêu cực: chức năng bảo vệ khép kín của lũy tre làng truyền thống suy giảm, các quy chuẩn làng xã bị phá vỡ, tệ nạn xã hội gia tăng, mối quan hệ giữa các thành viên và cộng đồng làng nảy sinh nhiều xung đột. Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, khối đại đoàn kết và diện mạo văn hóa nông thôn. Do đó, việc xây dựng làng văn hóa nhằm kế thừa, chọn lọc và phát huy các giá trị văn hóa làng truyền thống, đồng thời điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một yêu cầu cấp thiết.
Huyện Mỹ Hào (tỉnh Hưng Yên) nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, là địa phương đạt được nhiều kết quả tích cực trong phong trào xây dựng làng văn hóa. Tuy nhiên, quá trình triển khai tại cơ sở vẫn bộc lộ những vướng mắc, bất cập giữa lý luận và thực tiễn quản lý. Đề tài "Xây dựng làng văn hóa ở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên hiện nay" được tác giả Vũ Nhật Lệ thực hiện nhằm nhận diện, phân tích thực trạng này và đưa ra phương hướng giải quyết.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là: Trên cơ sở làm rõ lý luận chung về xây dựng làng văn hóa, khóa luận phân tích thực trạng xây dựng làng văn hóa ở huyện Mỹ Hào hiện nay, từ đó đề xuất những phương hướng và giải pháp cụ thể.
Để đạt mục tiêu trên, khóa luận xác định 2 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định rõ khái niệm về văn hóa và làng; phân biệt làng văn hóa và văn hóa làng; hệ thống hóa những nội dung trong xây dựng làng văn hóa để làm cơ sở lý luận chung cho toàn bộ khóa luận.
- Phân tích thực trạng xây dựng làng văn hóa ở huyện Mỹ Hào hiện nay, đề xuất các phương hướng và giải pháp xây dựng làng văn hóa ở Mỹ Hào.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xây dựng làng văn hóa ở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên hiện nay.
- Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên (gồm 1 thị trấn và 12 xã).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát qua 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (1996 - 2015): Quá trình bắt đầu triển khai phong trào cho đến khi huyện hoàn thành mục tiêu 100% làng được công nhận danh hiệu "làng văn hóa" lần đầu.
- Giai đoạn 2 (2015 - 2018): Quá trình rà soát, kiểm tra, thẩm định và công nhận lại danh hiệu làng văn hóa theo chu kỳ 3 năm một lần.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử) và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tác giả vận dụng quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về bản chất văn hóa gắn liền với năng lực lao động sáng tạo của con người; luận điểm của V.I. Lênin về quy luật kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại trong cách mạng vô sản; cùng định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hóa như một phương thức sinh hoạt xã hội nhằm thích ứng với nhu cầu sinh tồn của con người.
Khung pháp lý và chính sách nhà nước được văn bản sử dụng gồm có:
- Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trọng tâm là phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa".
- Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI (Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
- Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTDL ngày 10/10/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ công nhận danh hiệu "Gia đình văn hóa", "Làng văn hóa", "Tổ dân phố văn hóa".
- Quyết định số 01/HD-BCĐ ngày 28/5/2014 của Ban Chỉ đạo phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" tỉnh Hưng Yên về hướng dẫn cách chấm điểm, xét duyệt và duy trì danh hiệu "làng văn hóa" (thang điểm 100).
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai gồm:
- Phương pháp lôgic - lịch sử;
- Phương pháp phân tích và tổng hợp;
- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc;
- Phương pháp quy nạp - diễn dịch;
- Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu và tổng kết thực tiễn.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm các công trình nghiên cứu học thuật của Nguyễn Thừa Hỷ (1978), Phan Đại Doãn (1991, 2010), Vũ Ngọc Khánh (2001), Tô Duy Hợp (2000), Toan Ánh (1992); số liệu kinh tế - xã hội từ Báo cáo ngày 24/12/2018 của Đảng bộ huyện Mỹ Hào; số liệu từ Tổng cục Thống kê (năm 2018); các báo cáo thẩm định, phúc tra hồ sơ làng văn hóa của Ban chỉ đạo và Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Mỹ Hào qua các kỳ hạn từ năm 2012 đến 2018.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về xây dựng làng văn hóa
Tiểu mục này tập trung giải quyết các vấn đề lý luận mang tính khái niệm và quy chuẩn chính sách về thiết chế làng xã:
- Quan niệm về văn hóa và làng: Văn bản truy nguyên thuật ngữ từ phương Đông (Chu Dịch, quẻ Bí: xem dáng vẻ con người để giáo hóa thiên hạ) đến phương Tây (cultus animi - nuôi dưỡng tinh thần). Dẫn chứng thống kê năm 1952 của A. Kroeber và C. Kluckhohn với 150 định nghĩa văn hóa; quan điểm của C. Mác xem văn hóa là phương thức hoạt động sống, con người là thước đo mọi giá trị; định nghĩa năm 2002 của UNESCO về di sản văn hóa vật chất (hữu thể) và phi vật thể (vô hình). Về khái niệm làng, tác giả tổng hợp ý kiến của TS. Nguyễn Đăng Dung, Phan Đại Doãn, GS. Bùi Xuân Đính; khẳng định làng là đơn vị cộng cư của cư dân nông nghiệp, hình thành dựa trên hai nguyên lý "cội nguồn" và "cùng chỗ", biểu trưng qua cây đa, bến nước, sân đình. Làng tồn tại dưới nhiều tên gọi tùy thời kỳ và vùng miền (kẻ, chạ, chiềng; hương, lý; bản, mường; buôn, play; phum, sóc).
- Phân biệt văn hóa làng và làng văn hóa:
- Văn hóa làng: Nền văn hóa thuộc về cộng đồng, hình thành tự phát và lưu truyền qua hàng ngàn năm lịch sử; đặc trưng bởi tính cộng đồng, tính tự trị (thể hiện qua hương ước, lệ làng), tín ngưỡng đa thần và lối sống trọng tình nghĩa.
- Làng văn hóa: Tiếp thu định nghĩa của nhà nghiên cứu Hoàng Anh Nhân, văn bản khẳng định làng văn hóa là một mô hình mang tính chủ quan, có sự định hướng và can thiệp của con người nhằm hội tụ các phẩm chất tích cực, loại trừ hủ tục, phát triển toàn diện theo các tiêu chí chuẩn mực xã hội chủ nghĩa.
- Tiêu chuẩn làng văn hóa theo Thông tư 12/2011/TT-BVHTTDL: Gồm 5 tiêu chuẩn chính: (1) Đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển; (2) Đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú; (3) Môi trường cảnh quan sạch đẹp; (4) Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; (5) Có tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong cộng đồng.
- 6 nội dung cốt lõi của công tác xây dựng làng văn hóa: (1) Chuyển đổi cơ cấu kinh tế gắn với xây dựng nông thôn mới; (2) Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở đáp ứng yêu cầu; (3) Thiết lập thiết chế văn hóa và tổ chức tự quản an ninh; (4) Xây dựng quy ước làng văn hóa (dẫn lời Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1958 nhắc nhở cán bộ không xóa bỏ hương ước tốt đẹp); (5) Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở; (6) Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa.
Chương 2: Xây dựng làng văn hóa ở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên hiện nay – Thực trạng và giải pháp
Chương 2 phản ánh toàn diện các dữ kiện thực địa tại huyện Mỹ Hào:
- Đặc điểm địa lý và kinh tế - xã hội: Mỹ Hào nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Hưng Yên (20º53’ - 20º58’ vĩ độ Bắc, 106º02’ - 106º10’ kinh độ Đông); diện tích tự nhiên 7.936 ha; dân số 152.605 người (tính đến 31/12/2014); gồm 1 thị trấn (Bần Yên Nhân) và 12 xã. Địa hình bằng phẳng, cao độ nền từ 2,5m đến 3,5m; có mạng lưới sông Bắc Hưng Hải, sông Cửu An (4km), sông Bần Vũ Xá (15km), kênh Trần Thành Ngọ (7,25km), sông Cầu Lường.
- Số liệu phát triển kinh tế - xã hội năm 2018:
- Tổng giá trị sản xuất đạt 22.925 tỷ đồng (tăng 11,28% so với năm 2017). Trong đó, nông nghiệp đạt 700 tỷ đồng (3,1%); công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt 14.852 tỷ đồng (64,7%); thương mại - dịch vụ đạt 7.373 tỷ đồng (32,2%).
- Giá trị hàng xuất khẩu đạt 108 triệu USD (tăng 19%).
- Thu ngân sách nhà nước đạt 1.292 tỷ 184 triệu đồng (đạt 98% dự toán tỉnh giao); chi ngân sách đạt 701 tỷ 907 triệu đồng.
- Huyện có 12/12 xã đạt chuẩn nông thôn mới và được Thủ tướng Chính phủ công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới năm 2017. Toàn huyện có 8 làng nghề được công nhận; 42/46 trường đạt chuẩn quốc gia (91,3%); trên 30% dân số thường xuyên tập luyện thể dục thể thao.
- Điều kiện chấm điểm và thẩm định lại: Huyện triển khai Quyết định 01/HD-BCĐ của tỉnh Hưng Yên với thang điểm 100; điều kiện công nhận đạt từ 90 điểm trở lên. Sau công nhận lần đầu, cứ 3 năm tiến hành thẩm định lại 1 lần. Văn bản quy định rõ các tiêu chí chính nếu vi phạm sẽ không được công nhận lại (dù đạt trên 90 điểm): tỷ lệ gia đình văn hóa dưới 80% hoặc sụt giảm so với năm trước; có khiếu kiện đông người trái pháp luật; tỷ lệ sinh con thứ 3 tăng; có vi phạm cờ bạc, ma túy, lưu hành văn hóa phẩm cấm, mê tín dị đoan; để xảy ra trọng án hình sự; thu nhập dưới mức trung bình huyện; chưa xây dựng hoặc để nhà văn hóa xuống cấp; không đảm bảo vệ sinh môi trường.
- Quá trình triển khai và kết quả cụ thể:
- Năm 1996 (năm đầu xét duyệt): Toàn huyện chỉ có 01 làng duy nhất đạt chuẩn là làng Lỗ Xá (xã Nhân Hòa).
- Tỷ lệ làng văn hóa tăng dần qua các mốc: Năm 1999 đạt 22/77 làng (28,6%); năm 2008 đạt 63/77 làng (81,8%); năm 2010 đạt 70/77 làng (90,9%). Năm 2000 có 13.898 hộ đạt danh hiệu Gia đình văn hóa (65,7%), đến năm 2008 tăng lên 17.091 hộ (80,5%).
- Đến năm 2015: Hoàn thành mục tiêu 77/77 làng đạt danh hiệu làng văn hóa lần đầu (đạt 100%).
- Kết quả rà soát, thẩm định lại theo kỳ hạn 3 năm:
- Kỳ hạn 2012 - 2015: 27 làng đăng ký, 25 làng được công nhận lại, 02 làng không đủ điều kiện.
- Kỳ hạn 2013 - 2016: 19 làng đăng ký, 18 làng được công nhận lại, 01 làng không đủ điều kiện.
- Kỳ hạn 2014 - 2017: 31 làng đăng ký, 30 làng được công nhận lại, 01 làng đang hoàn thiện hồ sơ.
- Kỳ hạn 2015 - 2018 (thẩm định năm 2018): 27 làng thẩm định, 26 làng đủ điều kiện công nhận lại; 01 làng (làng Phú Đa, thị trấn Bần Yên Nhân) không đủ điều kiện do xảy ra vụ trọng án hình sự, vi phạm điểm e, khoản 2, mục II của Hướng dẫn 01/HD-BCĐ.
- Tác động tích cực: 100% các làng đã ban hành quy ước làng và duy trì tuyên truyền thực hiện nếp sống văn minh.
- 9 hạn chế và khó khăn thực tế: (1) Một số cơ sở chạy theo hình thức, chưa chú trọng củng cố chất lượng sau khi được công nhận; (2) Việc cưới, việc tang còn phô trương, mời khách tràn lan; một số cán bộ, đảng viên chưa gương mẫu; nghĩa trang nhân dân chậm quy hoạch; (3) Tệ nạn ma túy, mại dâm, bạo lực, vi phạm an toàn giao thông vẫn còn xảy ra; (4) Hoạt động văn nghệ nghèo nàn, thiết chế và trang thiết bị thiếu thốn; (5) Một số thành viên Ban chỉ đạo các cấp thiếu sâu sát; (6) Công tác kiểm tra, sơ kết định kỳ còn hình thức, chưa rút ra bài học kinh nghiệm; (7) Cán bộ cơ sở năng lực còn yếu, chưa được chuẩn hóa chuyên môn; (8) Cơ sở vật chất văn hóa - thể thao thiếu nguồn vốn đầu tư thích đáng; (9) Công tác biểu dương, khen thưởng người tốt việc tốt chưa thực hiện thường xuyên.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu cụ thể phản ánh toàn bộ tiến trình triển khai phong trào xây dựng làng văn hóa tại huyện Mỹ Hào trong giai đoạn 1996 - 2018:
| Giai đoạn / Mốc thời gian |
Chỉ tiêu thực hiện |
Kết quả đạt được |
Tỷ lệ (%) |
Ghi chú từ văn bản |
| Năm 1996 |
Công nhận lần đầu |
01 / 77 làng |
1,3% |
Đơn vị đầu tiên: Làng Lỗ Xá, xã Nhân Hòa |
| Năm 1999 |
Công nhận lần đầu |
22 / 77 làng |
28,6% |
Phong trào mở rộng quy mô toàn huyện |
| Năm 2000 |
Gia đình văn hóa |
13.898 hộ |
65,7% |
Tổng số hộ gia đình toàn huyện |
| Năm 2008 |
Làng văn hóa |
63 / 77 làng |
81,8% |
Duy trì đà tăng trưởng danh hiệu |
| Năm 2008 |
Gia đình văn hóa |
17.091 hộ |
80,5% |
Tăng 14,8% so với năm 2000 |
| Năm 2010 |
Làng văn hóa |
70 / 77 làng |
90,9% |
Chuẩn bị hoàn thành kế hoạch phủ kín |
| Năm 2015 |
Hoàn thành lần đầu |
77 / 77 làng |
100% |
Toàn bộ các làng trong huyện được công nhận |
| Kỳ 2012 - 2015 |
Thẩm định lại 3 năm |
25 / 27 làng |
92,6% |
02 làng vi phạm tiêu chí không được công nhận lại |
| Kỳ 2013 - 2016 |
Thẩm định lại 3 năm |
18 / 19 làng |
94,7% |
01 làng không đủ điều kiện |
| Kỳ 2014 - 2017 |
Thẩm định lại 3 năm |
30 / 31 làng |
96,8% |
01 làng hoàn thiện lại hồ sơ |
| Kỳ 2015 - 2018 |
Thẩm định lại 3 năm |
26 / 27 làng |
96,3% |
01 làng (làng Phú Đa) bị loại do có trọng án hình sự |
Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, tác giả tự nêu các điểm sau:
- Khóa luận góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận chung về làng, văn hóa làng và làng văn hóa; làm rõ ranh giới bản chất giữa "văn hóa làng" (tập hợp các giá trị truyền thống hình thành tự nhiên, có cả yếu tố tích cực lẫn hạn chế) và "làng văn hóa" (thiết chế mô hình văn hóa chủ quan do con người định hướng kiến tạo).
- Đây là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống, cụ thể mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn triển khai phong trào xây dựng làng văn hóa trên địa bàn huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên; cung cấp các dữ liệu khảo sát xác thực về công tác chấm điểm, thẩm định và quản lý danh hiệu cấp cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận phản ánh một số điểm hạn chế dựa trên phạm vi và điều kiện nghiên cứu:
- Tác giả tự nhìn nhận nhận thức của bản thân còn những giới hạn nhất định nên công trình khó tránh khỏi thiếu sót trong phân tích chuyên sâu.
- Phạm vi dữ liệu thực tiễn của khóa luận khống chế trong mốc thời gian từ năm 1996 đến năm 2018 trên địa bàn huyện Mỹ Hào, dựa chủ yếu trên các báo cáo hành chính, số liệu thống kê và văn bản chỉ đạo của chính quyền địa phương mà chưa triển khai các bộ công cụ điều tra xã hội học định lượng sâu trên diện rộng đối với từng hộ dân.
- Hướng mở rộng nghiên cứu: Tiếp tục theo dõi tác động của quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa mạnh mẽ tại Mỹ Hào (đặc biệt trong giai đoạn địa phương chuyển đổi cơ cấu để trở thành thị xã công nghiệp), qua đó đánh giá sự biến đổi cấu trúc làng truyền thống và tính bền vững của các tiêu chuẩn làng văn hóa trong các chu kỳ thẩm định tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Triết học, Văn hóa học, Xã hội học và Quản lý văn hóa đang thực hiện các đề tài nghiên cứu về thiết chế nông thôn, văn hóa truyền thống và chính sách xây dựng nông thôn mới.
- Cán bộ quản lý văn hóa, lãnh đạo Đảng ủy, Ủy ban nhân dân và thành viên Ban chỉ đạo phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" tại các huyện, xã đồng bằng Bắc Bộ.
Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao bao gồm:
- Khung lý luận ở Chương 1 về sự phân định giữa "văn hóa làng" và "làng văn hóa", cùng hệ thống 6 nội dung cơ bản trong kiến tạo thiết chế văn hóa cơ sở.
- Quy trình chấm điểm, phương pháp thẩm định định kỳ 3 năm một lần theo thang điểm 100 của Quyết định 01/HD-BCĐ (tỉnh Hưng Yên) và bài học thực tiễn về việc kiên quyết không công nhận lại danh hiệu đối với các đơn vị để xảy ra vi phạm tiêu chí chính (như vi phạm về trọng án hình sự hay suy giảm tỷ lệ gia đình văn hóa).
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận phân biệt sự khác nhau giữa "văn hóa làng" và "làng văn hóa" như thế nào?
Theo văn bản, văn hóa làng là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần hình thành tự nhiên, tồn tại lâu đời cùng lịch sử dân tộc, mang tính cộng đồng và tự trị (chứa đựng cả mặt tích cực lẫn những hủ tục lạc hậu). Ngược lại, làng văn hóa là một mô hình mang tính chủ quan do con người xây dựng, trong đó kế thừa có chọn lọc các giá trị tốt đẹp của văn hóa làng và loại trừ các mặt tiêu cực theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Làng đầu tiên của huyện Mỹ Hào được công nhận danh hiệu làng văn hóa là làng nào và vào năm nào?
Năm 1996 là năm đầu tiên huyện Mỹ Hào xét duyệt công nhận danh hiệu, và làng duy nhất đạt chuẩn trong năm này là làng Lỗ Xá, thuộc xã Nhân Hòa.
Huyện Mỹ Hào đạt mốc 100% làng được công nhận danh hiệu làng văn hóa lần đầu vào thời điểm nào?
Tính đến năm 2015, sau 19 năm phát động và triển khai phong trào (1996 - 2015), huyện Mỹ Hào đã có 77/77 làng được công nhận danh hiệu làng văn hóa lần đầu, đạt tỷ lệ 100%.
Theo quy định tại tỉnh Hưng Yên, làng đạt đủ 90 điểm nhưng vi phạm các tiêu chí nào thì kiên quyết không được công nhận danh hiệu làng văn hóa?
Căn cứ Hướng dẫn số 01/HD-BCĐ ngày 28/5/2014, làng bị loại nếu vi phạm một trong các tiêu chí chính sau: Tỷ lệ gia đình văn hóa thấp hơn 80% hoặc năm sau thấp hơn năm trước; có khiếu kiện đông người trái pháp luật; tăng tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên; có hành vi tàng trữ/lưu hành văn hóa phẩm cấm, tổ chức cờ bạc, mê tín dị đoan; xảy ra trọng án hình sự; thu nhập bình quân đầu người dưới mức trung bình; chưa xây dựng hoặc để nhà văn hóa xuống cấp không tu sửa; vệ sinh môi trường không đảm bảo, chưa thu gom xử lý rác/nước thải.
Tại sao làng Phú Đa (thị trấn Bần Yên Nhân) không được công nhận lại danh hiệu làng văn hóa trong kỳ thẩm định năm 2018?
Trong kỳ thẩm định 2015 - 2018 tiến hành năm 2018, làng Phú Đa không đủ điều kiện công nhận lại do trên địa bàn xảy ra một vụ trọng án hình sự, vi phạm trực tiếp quy định tiêu chí chính tại điểm e, khoản 2, mục II của Hướng dẫn 01/HD-BCĐ của Ban Chỉ đạo tỉnh Hưng Yên.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Nhật Lệ đã làm rõ cơ sở lý luận triết học xã hội về văn hóa, làng và bản chất của việc xây dựng làng văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công trình hệ thống hóa bức tranh thực tiễn phong trào tại huyện Mỹ Hào từ khi chỉ có 01 làng đạt chuẩn (năm 1996) đến khi phủ kín 100% số làng (năm 2015) và duy trì cơ chế thẩm định định kỳ 3 năm một lần giai đoạn 2015 - 2018. Bên cạnh các kết quả tích cực về nếp sống và kinh tế - xã hội, văn bản chỉ rõ 9 nhóm hạn chế cơ sở và các trường hợp bị loại bỏ danh hiệu do vi phạm tiêu chí kỷ cương. Đây là tài liệu nghiên cứu phản ánh trung thực mối liên hệ giữa lý luận văn hóa và thực tiễn quản lý địa phương tại vùng đồng bằng Bắc Bộ.