Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về công tác an toàn vệ sinh lao động trên thế giới 1. Sự quan tâm đối với công tác an toàn vệ sinh lao động Chính sách của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ngay từ khi thành lập, đã bao gồm các nội dung về sức khỏe nghề nghiệp. Nhiều văn kiện quan trọng của WHO như “Sức khỏe cho tất cả chiến lược”, “Chương trình chung về việc làm” và một số Nghị quyết của Đại hội đồng Y tế Thế giới đã nhấn mạnh sự cần thiết phải bảo vệ và tăng cường sức khỏe, đảm bảo an toàn tại nơi làm việc cho NLĐ.
Đối mặt với vô số các vấn đề về ATSKNN trong bối cảnh phát triển và xu thế mới của cuộc sống lao động toàn cầu, Mạng lưới các trung tâm hợp tác của WHO về sức khỏe nghề nghiệp đã tiến hành 2 cuộc hội thảo với 52 nghiên cứu của các chuyên gia đến từ 35 quốc gia, nội dung thảo luận xoay quanh chủ đề sự cần thiết của một chiến lược toàn cầu mới về sức khỏe nghề nghiệp. Cụ thể, hội thảo lần thứ nhất diễn ra vào tháng 9 năm 1992 tại thành phố Moscow với nội dung là thống nhất kế hoạch hoạt động của tổ chức và hội thảo lần hai diễn ra vào tháng 10 năm 1994 tại Bắc Kinh với chủ đề là khích lệ ý tưởng mới nhằm phát triển sức khỏe nghề nghiệp ở các quốc gia thành viên, làm tiền đề phân công nhiệm vụ cho các thành viên tham gia nhằm tránh sự chồng chéo, lãng phí về nguồn nhân lực và tài chính. Đối với Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, công tác ATVSLĐ luôn trở thành vấn đề trọng tâm kể từ khi thành lập (năm 1919). ILO đã đầu tư nghiên cứu và thống kê nhiều năm về tình hình TNLĐ trên thế giới.
Theo đó, năm 2013 cứ 15 giây có 01 người bị chết do TNLĐ hoặc do bệnh liên quan đến nghề nghiệp và 151 NLĐ bị thương do TNLĐ. Theo thực tế, trên toàn thế giới, mỗi ngày có gần 1.000 người bị TNLĐ và 160 triệu NLĐ mắc các bệnh liên quan đến nghề nghiệp; hàng năm có đến hơn 2,34 triệu người bị chết, trong đó có 320.000 người thiệt mạng do TNLĐ và 2.000 người thiệt mạng do BNN và bệnh liên quan đến nghề nghiệp. Đến năm 2019, trong Báo cáo nhân kỷ niệm 100 năm và ngày An toàn và Sức khoẻ Thế giới tổ chức lao động quốc tế ILO “An toàn và Sức khoẻ nơi làm việc trong tương lai: Từ kinh nghiệm 100 năm - Safety and Health at the Future of Work: Building on 100 years of experience”, có nêu mỗi năm thế giới có 374 triệu 6 người bị thương do TNLĐ và 2,78 triệu NLĐ bị thiệt mạng do NLĐ và bị các bệnh liên quan đến nghề nghiệp (trong đó có 2,4 triệu người bị thiệt mạng do mắc các bệnh liên quan đến nghề nghiệp, chiếm đến 86,3% và 13,7% còn lại là bị thiệt mạng do TNLĐ), con số này chiếm 5% trong tổng số người bị chết hàng năm trên thế giới. Điều này không chỉ gây ra thiệt hại về nguồn nhân lực mà còn kéo theo thiệt hại về kinh tế do số ngày mà NLĐ phải nghỉ việc ước tính lên đến 4% tổng sản phẩm xã hội trên toàn thế giới (4% GDP của thế giới); thậm chí có những quốc gia thiệt hại kinh tế lên đến 6% hoặc hơn tổng sản phẩm quốc gia, đặc biệt là ở những nước đang phát triển.
Như vậy có thể thấy TNLĐ, BNN, sự lo lắng của con người cũng như các chi phí liên quan đến vấn nạn này không chỉ là mối quan tâm ở một quốc gia nào mà còn là vấn đề nan giải ở phạm vi toàn cầu. Ngoài các biện pháp đã thiết lập để ngăn ngừa và kiểm soát mối nguy, nâng cao nhận thức của NLĐ về tầm quan trọng của công tác ATVSLĐ cũng như thúc đẩy cam kết chính trị để thực hiện có hiệu quả hệ thống ATVSLĐ cấp quốc gia thì việc tiếp cận một hệ thống để quản lý ATVSLĐ là vấn đề mấu chốt trong chiến lược ATVSLĐ toàn cầu. Theo đó, NLĐ và người sử dụng lao động tích cực tham gia để đảm bảo một môi trường làm việc an toàn thông qua một hệ thống các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ. Một số hệ thống quản lý An toàn vệ sinh lao động của các nước trên thế giới 1.
Hệ thống quản lý An toàn vệ sinh lao động của ILO Theo hướng dẫn được ban hành năm 2001 của tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: Mô hình quản lý ATVSLĐ được xem là có hiệu quả, phải là một mô hình được phát triển liên tục, với các yếu tố cấu thành cơ bản phải bao gồm: Chính sách; Hoạch định; Tổ chức thực hiện; Xem xét, đánh giá và Cải tiến liên tục [20, tr. Tổ chức đánh giá định kỳ trong suốt quá trình triển khai, nhằm đánh giá sự phù hợp/đáp ứng với các yêu cầu pháp lý, hoạch định và các quy định của tổ chức và yêu cầu của các bên liên quan. Mô hình hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động ILO-OHS 2001 Nguồn: [20, tr. Hệ thống quản lý an toàn sức khỏe nghề nghiệp OHSAS 18001 OHSAS 18001 là tiêu chuẩn về hệ thống quản lý ATSKNN do Viện Tiêu chuẩn Anh (BSI) xây dựng và ban hành (OHSAS: Occupational Health and Safertu Assment Series) và còn gọi là BS OHSAS 18001:2007).
Tiêu chuẩn OHSAS18001:2007 được xây dựng theo chu trình: Plan - Do - Check – Act, chu trình này được mô tả như sau: Plan - Lập kế hoạch: Đề ra các mục tiêu và quá trình thực hiện liên quan nhằm đạt được hiệu quả phù hợp với chính sách an toàn và sức khỏe nghề nghiệp của tổ chức. Do - Thực hiện: Tổ chức thực hiện các quá trình đã thiết lập. Check - Kiểm tra: Kiểm tra, theo dõi và đo lường các quá trình thực hiện dựa trên chính sách ATSKNN của tổ chức, quy định của pháp luật cũng như các quy định liên quan khác và báo cáo kết quả. Act - Hành động: Thực hiện các hành động để cải tiến liên tục hiệu quả của hệ thống.
Mô hình hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động theo tiêu chuẩn OHSAS 18001:2007 Nguồn: [20, tr. Hệ thống quản lý An toàn vệ sinh lao động tại Anh Nước Anh có truyền thống lâu đời nhất thế giới về việc quy định các vấn đề liên quan đến y tế và ATLĐ (từ năm 1853). Hệ thống pháp luật về sức khỏe và an toàn ở nơi làm việc đời từ năm 1974 và đến năm 2008 có nhiều thay đổi. Mục đích là cung cấp một cấu trúc và khung pháp lý nhất quán với các quy định về an toàn và sức khỏe.
Nhiều quy định về sức khỏe và an toàn (HSE) được thực thi tại nơi làm việc như tại cơ sở hạt nhân, các khu khai thác mỏ, trang trại, bệnh viện, nhà máy, trường học, ngành công nghiệp dầu khí, điện…và nhiều lĩnh vực khác, hướng đến mục đích không chỉ bảo vệ cho NLĐ mà còn cho cả người tiêu dung nữa. Tổ chức Tiêu chuẩn Anh (BSI) là cơ quan quốc gia chịu trách nhiệm về xây dựng phát triển Tiêu chuẩn Anh. Đại đa số liên quan đến tiêu chuẩn anh đều được chuyển đổi từ tiêu chuẩn châu Âu hoặc tiêu chuẩn quốc tế, BSI có liên hệ chặt chẽ với Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa (ISO). Hệ thống quản lý ATVSLĐ BS8800:2004 do BSI biên soạn và phát hành năm 2004 với 07 nhân tố cấu thành gồm: Xem xét lúc đầu; Chính sách; Cơ cấu tổ 9 chức; Lập kế hoạch và thực hiện; Đo lường kết quả đạt được; Kiểm tra và Đánh giá kết quả hoạt động [20, tr.
Hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động BS8800:2004 Nguồn: [20, tr. Hệ thống quản lý An toàn vệ sinh lao động tại Mỹ Xây dựng và tuân thủ hệ thống quản lý về An toàn và Sức khỏe tại nơi làm việc là trọng tâm của chính phủ Hoa Kỳ. Năm 1970, Quốc hội đã thông qua đạo luật về An toàn Lao động và An toàn để đảm bảo an toàn cho người lao động tại nơi làm việc. Cũng trong năm này, Quốc hội Hoa Kỳ đã thành lập cơ quan ATSKNN (OSHA), đồng thời yêu cầu cơ quan này ban hành và thực thi các tiêu chuẩn cho việc đảm bảo sức khỏe và an toàn tại nơi làm việc Hệ thống quản lý được xây dựng bởi Hội vệ sinh công nghiệp Mỹ phối hợp với Viện tiêu chuẩn quốc gia Mỹ và được ban hành năm 2015.
Cấu trúc hệ thống quản lý với 05 yếu tố chính: “Sự quản lý của lãnh đạo và sự tham gia của người lao động (Management Leadership and Employee Participation); kế hoạch (Planning); thực hiện và vận hành (Implementation and Operation); đánh giá và hành động khắc phục (Evaluation and Corrective Action); xem xét của lãnh đạo (Management Review)” [20, tr. Hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động ANSIZ10 Nguồn: [20, tr. Hệ thống quản lý An toàn vệ sinh lao động tại Trung Quốc Hiện nay, Trung Quốc đã trở thành “Công xưởng của thế giới” và các luật, quy định và hệ thống pháp luật về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp đang nỗ lực để theo kịp được tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Chính phủ đã ban hành một loạt các luật, quy định và các nghị định quy định về quyền của NLĐ và bảo vệ sức khỏe, an toàn lao động.
Luật An toàn sản xuất được Đại hội đại biểu nhân dân Trung Quốc thông qua vào năm 2002 và ủy quyền cho cơ quan QLNN về ATLĐ và y tế quản lý các vấn đề liên quan. Hệ thống quy định về sức khỏe nghề nghiệp: Cơ quan quản lý y tế có trách nghiệm: Xây dựng các tiêu chuẩn về SKNN; Khám SKNN; chẩn đoán BNN, điều trị; Giám sát và báo cáo, đánh giá rủi ro nghề nghiệp của dự án xây dựng và Nghiên cứu kiểm soát BNN và phòng ngừa. Hệ thống quản lý an toàn lao động: Cơ quan quản lý an toàn lao động chủ yếu chịu trách nhiệm về: Sự an toàn của tính mạng và tài sản tại nơi làm việc; Xây dựng các tiêu chuẩn an toàn lao động; Cứu nạn trong tai nạn; Đánh giá an toàn lao động; Điều tra tai nạn và Quản lý hóa chất nguy hiểm như chất dễ cháy, chất nổ, chất phóng xạ và các chất độc hại cao. Hệ thống quản lý An toàn vệ sinh lao động tại Thái Lan Thái Lan có 3 chương trình ở cấp quốc gia về ATVSLĐ (2002-2006; 2007-2011; 2012-2016) cả 3 chương trình chính phủ Thái Lan luôn đặt việc xây dựng tiêu chuẩn ATVSLĐ phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế lên hàng đầu.