CHƯƠNG 1 Tác giả trình bày tổng quan các đề tài nghiên cứu trước có liên quan đến chủ đề tác giả chọn. Từ những nghiên cứu đó, để tác giả làm minh chứng cần thiết cho việc xây dựng hệ thống kế toán quản trị tại Trung Tâm Y Tế Nguyễn Văn Thủ Huyện Vũng Liêm nhằm nâng cao hiệu quả điều hành hoạt động cho đơn vị trong thời gian tới. 10 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP 2.1 Tổng quan về đơn vị SNYTCL 2.1 Khái niệm Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ thì “Đơn vị sự nghiệp y tế công lập là tổ chức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách nhân, có con dấu, tài khoản và tổ chức kế máy theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ hoặc người quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực chuyên ngành y tế như: Y tế dự phòng, khám chữa bệnh, dưỡng và phục hồi chức năng, giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần, y dược cổ truyền, kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế, an toàn vệ sinh thực phẩm, dân số - kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản, truyền sức khỏe thông tin giáo dục”.2 Phân loại đơn vị SNYTCL Theo Nghị định 85/2012/CP ngày 15/10/2012 của Chính phủ về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập, các đơn vị sự nghiệp y tế công lập bao gồm: Nhóm 1: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí đầu tư phát triển; Nhóm 2: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên; Nhóm 3: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên; 11 Nhóm 4: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được giao do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ.3 Đặc điểm của đơn vị SNYTCL Do các cơ quan hành chính Nhà nước thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Trong quá trình hoạt động có phép thu các loại phí để bù đắp một phần hay toàn bộ hoạt động, tăng thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị.
Đơn vị SNYTCL có nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước. Lực lượng lao động chủ yếu là viên chức thực hiện theo Luật Viên chức, phải bảo đảm cho công việc thực thi và nhiệm vụ trong đơn vị sự nghiệp.4 Quản lý tài chính của đơn vị SNYTCL 2.1 Đặc điểm hoạt động tài chính của đơn vị SNYTCL Hoạt động theo dự toán được cấp có thẩm quyền giao và được NSNN cấp toàn bộ hoạt một phần dự toán kinh phí hoạt động thường xuyên được cấp có thẩm quyền duyệt. Hằng quý, hằng năm đơn vị phải lập dự toán thu chi theo định mức, chế độ, tiêu chuẩn do Nhà nước quy định hoặc Nhà nước cho phép thủ trưởng đơn vị được quy định một số khoản chi tiêu thường xuyên được thực hiện theo quy chế chi tiêu nội bộ. Đối với các đơn vị SNYTCL trong cùng một ngành dọc được tổ chức thành đơn vị dự toán các cấp như sau: - Đơn vị dự toán cấp I: Là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách năm do cấp chính quyền tương ứng giao và chịu trách nhiệm phân bổ dự toán ngân sách năm xuống cho đơn vị cấp dưới, quản lý, điều hành ngân sách năm của cấp mình và cấp dưới trực thuộc.
12 - Đơn vị dự toán cấp II: Là đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp I, có nhiệm vụ nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp I và phân bổ cho đơn vị dự toán cấp III, có trách nhiệm tổ chức, điều hành quản lý kinh phí của cấp mình và đơn vị dự toán cấp dưới. - Đơn vị dự toán cấp III: Là đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng kinh phí nhận từ đơn vị dự toán cấp II hoặc dự toán cấp I (nếu không có dự toán cấp II), có trách nhiệm tổ chức, thực hiện quản lý kinh phí của đơn vị mình và đơn vị dự toán cấp dưới. - Đơn vị dự toán cấp dưới của cấp III: Được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chỉ tiêu phải thực hiện việc quản lý kinh phí theo sự hướng dẫn của đơn vị dự toán cấp III.2 Quy trình quản lý tài chính của đơn vị SNYTCL Lập dự toán thu chi, NSNN trong phạm vi được cấp có thẩm quyền giao hằng năm. Tổ chức chấp hành dự toán thu, chi tài chính hằng năm theo chế độ chính sách của Nhà nước, chủ trì hoặc phối hợp với các ngành xây dựng các chế độ chi tiêu đặc thù của ngành, lĩnh vực, địa phương theo sự ủy quyền của cơ quan có thẩm quyền.
Thực hiện quản lý sử dụng tài sản Nhà nước giao cho cơ quan, đơn vị. Chấp hành chế độ kế toán thống kê theo pháp luật. Lập báo cáo quyết toán thu chi tài chính quý và năm về tình hình sử dụng các nguồn tài chính của đơn vị theo NSNN.3 Nguyên tắc quản lý tài chính của đơn vị SNYTCL Phải đảm bảo kinh phí thường xuyên theo chế độ, định mức, tiêu chuẩn của Nhà nước để các đơn vị hoạt động liên tục. Quản lý kinh phí thuộc đơn vị nào là trách nhiệm của đơn vị mà trước hết là trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị.
13 Tôn trọng dự toán năm được duyệt: Trong quá trình chấp hành dự toán các đơn vị phải tuân thủ dự toán năm đã được duyệt, dự toán thông báo cho mục đích nào thực hiện cho mục đích đó. Trong trường hợp có biến động khách quan làm thay đổi dự toán sẽ được NSNN bổ sung theo thủ tục quy định Luật NSNN, để đảm bảo cho các đơn vị SNCL hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.4 Phương pháp quản lý tài chính của đơn vị SNYTCL Phương pháp thu đủ, chi đủ: Phương pháp này áp dụng cho các đơn vị SNYTCL có nguồn thu không lớn, theo đó mọi nhu cầu chi tiêu của đơn vị được NSNN cấp phát theo dự toán đã được duyệt. Đồng thời mọi khoản thu phát sinh trong quá trình hoạt động, đơn vị phải nộp vào NSNN theo quy định. Phương pháp này hiện nay không còn phù hợp với cơ chế tài chính mới, hạn chế quyền tự chủ, sáng tạo của đơn vị và tạo tâm lý ỷ lại trông chờ vào NSNN.
Phương pháp thu, chi chênh lệch: Phương pháp này áp dụng cho những đơn vị SNCL có nguồn thu khá lớn phát sinh thường xuyên và ổn định, theo đó các đơn vị được quyền giữ lại các khoản thu của mình để chi tiêu theo dự toán và chế độ quản lý tài chính Nhà nước theo quy định, NSNN chi đảm bảo phần chênh lệch thiếu. Phương pháp này phù hợp với yêu cầu đổi mới cơ chế tài chính ở nước ta hiện nay, phát huy được tính tích cực, chủ động của các đơn vị trong quá trình khai thác nguồn thu, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của đơn vị. Phương pháp quản lý theo định mức: Để tăng cường quản lý chi tiêu ngân sách có hiệu quả cần thiết phải quản lý định mức cho từng nhóm chi, mục tiêu chi hoặc cho mỗi đối tượng cụ thể, theo đó các định mức tổng hợp và định mức chi tiết cho từng lĩnh vực chi tiêu của đơn vị. Phương pháp giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính: Các đơn vị SNCL có thu thực hiện quyền tự chủ tài chính từ các nguồn tài chính của đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao.
Hiện nay, phương pháp giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị đang được sử dụng rộng rãi tại các đơn vị SNCL, nhằm tạo tính chủ động, sáng tạo trong công việc sử dụng ngân sách, đơn vị tích cực tìm kiếm 14 nguồn thu, điều tiết chi tiêu phù hợp, nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị, cải thiện thu nhập cho người lao động từ nguồn kinh phí tiết kiệm giao quyền tự chủ.5 Quyết toán thu, chi tài chính của đơn vị SNYTCL Nội dung thu: - Thu hoạt động do NSNN cấp theo dự toán để thực hiện nhiệm vụ được giao gồm cấp cho hoạt động thường xuyên, cấp cho hoạt động không thường xuyên và các khoản thu khác được để lại đơn vị theo quy định mà được cấp có thẩm quyền giao dự toán hoặc không giao dự toán và yêu cầu phải quyết toán theo mục lục NSNN. - Thu từ nguồn viện trợ không hoàn lại, vay nợ nước ngoài. - Thu từ số phí được khấu trừ và để lại theo Luật phí, lệ phí. - Doanh thu của hoạt động tài chính.
- Doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Nội dung chi: - Chi hoạt động gồm chi thường xuyên và không thường xuyên. - Chi viện trợ, vay nợ nước ngoài, - Chi quản lý của hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ, - Chi tài chính. - Giá vốn hàng bán.
Quyết toán thu, chi tài chính: - Quyết toán là quá trình nhằm kiểm tra, rà soát, chỉnh lý các số liệu đã được phản ánh sau một kỳ chấp hành dự toán, qua đó phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán nhằm rút ra những kinh nghiệm và bài học cần thiết cho kỳ chấp hành dự toán tiếp theo sau. 15 - Trong quá trình quyết toán đơn vị phải lập đầy đủ các báo cáo tài chính theo quy định, báo cáo quyết toán của đơn vị không được để xảy ra tình trạng quyết toán chi lớn hơn dự toán được giao.2 Tổng quan về kế toán quản trị 2.1 Các giai đoạn phát triển của kế toán quản trị Giai đoạn 1: Trước năm 1950 sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất vào khoảng cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19. Nền kinh tế thế giới bước sang giai đoạn phát triển mới, khối lượng công việc kế toán trở nên nhiều hơn và phức tạp hơn. Trước tình hình đó, kế toán yêu cầu phải đơn giản hóa thông tin và cung cấp thông tin để có thể kiểm soát được chi phí và định giá bán sản phẩm.