Chương 1 CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ BÍ THƯ ĐẢNG ỦY XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN CỦA TỈNH BẠC LIÊU - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ NHIỆM VỤ CỦA CẤP XÃ, CÁC ĐẢNG BỘ XÃ VÀ ĐỘI NGŨ BÍ THƯ ĐẢNG ỦY CẤP XÃ Ở TỈNH BẠC LIÊU HIỆN NAY 1. Quan niệm về xã và cấp xã Làng, xã là đơn vị quần cư chủ yếu của người Việt Nam - một dân tộc vốn có nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Các tên gọi "làng", "xã", "thôn" xuất hiện từ rất sớm.
Trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc, dưới ách thống trị và âm mưu đồng hoá của phong kiến Trung Quốc, làng xã ở Việt Nam đã nhiều lần biến đổi và sau đó đến các triều đại phong kiến bản địa cũng gần một nghìn năm, nó đã nhiều lần được cải cách về thể chế và kết cấu xã hội. Theo GS,TS Hoàng Chí Bảo, "Làng: là một từ Nôm, là tiếng nói dân dã, là ngôn ngữ đời sống trong dân gian đã ăn sâu vào tâm lý ý thức của người Việt từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó không chỉ là một không gian sinh tồn, một môi trường kinh tế - sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền mà còn là một không gian xã hội và cảnh quan văn hoá [2, tr. Nhà nghiên cứu dân tộc học Trần Từ cho rằng: ""làng" là tế bào sống của xã hội Việt Nam thời cổ, là sản phẩm tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư và cộng cư của người Việt trồng trọt" [65, tr.
Cũng theo GS,TS. Hoàng Chí Bảo, "xã" là một từ Hán, là khái niệm hành chính, là đơn vị cơ sở của quản lý hành chính, được thừa nhận khi chính quyền nhà nước phong kiến lúc đó thi hành những cải cách hành chính, biến công xã - làng Việt cổ - thành đơn vị hành chính cấp cơ sở gọi là "xã" [2, tr. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, cấp xã giữ vị trí, vai trò hết sức quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, 11 xã hội và chống ngoại xâm. Xã là nơi cộng đồng dân cư sinh sống, liên kết chặt chẽ với nhau trong quan hệ kinh tế, xóm làng, họ tộc, hội hè, tín ngưỡng, giúp đỡ và chia sẻ với nhau trong cuộc sống.
Xã được hình thành bởi các làng; mỗi làng, xã - ngoài những điểm chung về văn hoá, phong tục tập quán… - còn có những nét riêng, tạo nên sự phong phú, đa dạng cho nền văn hoá của xã hội Việt Nam. Trong thời kỳ Bắc thuộc và Pháp thuộc, các chính quyền nhà nước đều xác định cấp xã là cấp quản lý hành chính ở cơ sở, nằm trong hệ thống quản lý hành chính lãnh thổ của đất nước. Bộ máy chính quyền cấp xã là công cụ phục vụ đắc lực cho chính quyền nhà nước cấp trên trong việc cai quản nông thôn. Vì thế, họ luôn coi trọng việc xây dựng, củng cố bộ máy chính quyền cấp xã, để nó nắm chắc được ruộng đất và dân đinh ở làng xã mình, khai thác đầy đủ, triệt để các thứ thuế khoá và nghĩa vụ của dân đinh đối với nhà nước; duy trì và tăng cường sự bóc lột của chúng đối với nhân dân ta.
Các triều đại phong kiến ở nước ta cũng rất đề cao và coi trọng vai trò của làng, xã. Vua Gia Long cho rằng: "Nước là hợp của làng xã mà thành, từ làng xã mà đến nước; dạy dân nên tục ương chính là làng xã làm trước" [25, tr. Đến thời Minh Mạng, nhà nước phong kiến đã có những quyết định cụ thể hơn về xây dựng bộ máy chính quyền xã. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, xã trở thành địa bàn đặc biệt quan trọng, ở đó các tổ chức của Đảng được che chở, bảo vệ và hoạt động tuyên truyền giác ngộ quần chúng, lôi cuốn họ vào phong trào đấu tranh cách mạng.
Khi giành được chính quyền, cùng với việc xây dựng bộ máy chính quyền Trung ương, tỉnh, huyện, Đảng và Nhà nước ta đã coi trọng việc xây dựng tổ chức bộ máy của Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể ở cấp xã. Vị trí, vai trò của cấp xã được khẳng định trong Hiến pháp và nhiều sắc 12 lệnh của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và trong các văn kiện Đảng. Hiến pháp 1946 và Sắc lệnh số 63 ngày 22-11-1945, Hiến pháp 1959 và nhiều sắc lệnh của Nhà nước xác định: cấp xã là một cấp nằm trong hệ thống hành chính lãnh thổ của đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, vị trí, vai trò của cấp xã đã được nâng lên ở tầm cao mới, thể hiện sâu sắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Trong thời kỳ này, xã là căn cứ địa của cách mạng; là nơi xây dựng và hoạt động của lực lượng du kích, dân quân tự vệ; là nơi cung cấp cho Đảng những quần chúng ưu tú để tăng cường sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng. Số lượng xã là được xác định rõ ràng, thị trấn cũng tương đương với xã, còn phường ở thành phố là đơn vị hành chính cơ sở, nhiều phường vẫn gắn một phần với sản xuất và cư dân nông nghiệp, nên cấp cơ sở được gọi chung là cấp xã, bao gồm cả xã, phường, thị trấn. Theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi), xã là một cấp quản lý nhà nước trong hệ thống hành chính 4 cấp của nước ta hiện nay ở khu vực nông thôn với một địa bàn rộng lớn; xã là cấp cơ sở, chiếm 85% tổng số đơn vị cơ sở ở nước ta. Ngày 27-12-2005, Chính phủ ra Nghị định số 159/2005/NĐ-CP về phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn làm căn cứ để Nhà nước có chính sách phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đảm bảo sự ổn định của đơn vị hành chính cấp xã và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở, đồng thời làm cơ sở để xác định số lượng cán bộ, công chức chuyên trách và không chuyên trách; số lượng thành viên Uỷ ban nhân dân (UBND); bổ sung chế độ, chính sách hợp lý đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn.
Cũng theo Nghị định này, các xã, phường, thị trấn được chia thành ba loại sau: - Xã, phường, thị trấn loại I: thuộc địa bàn biên giới hải đảo, có từ 221 điểm trở lên. 13 - Xã, phường, thị trấn loại II: có từ 141 đến 220 điểm. - Xã, phường, thị trấn loại III: có từ 140 điểm trở xuống (cách tính điểm được quy định cụ thể trong Nghị định). Tiêu chí phân loại trên dựa trên các điều kiện: dân số, diện tích và các yếu tố đặc thù như dân tộc, tôn giáo, khu vực… Xã, phường, thị trấn là cấp hành chính thấp nhất.
Các tổ chức trong hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn có hai đặc trưng nổi bật: gần dân nhất và là nơi thực hiện tất cả các nghị quyết, chỉ thị của các tổ chức đảng cấp trên; các chính sách, pháp luật của Nhà nước; các chương trình, kế hoạch của chính quyền cấp trên; các chủ trương của các đoàn thể cấp trên, đồng thời xây dựng và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chương trình công tác của cấp mình. Những đặc điểm chung của cấp xã ở tỉnh Bạc Liêu Ngoài những đặc điểm chung của cấp xã trong cả nước, cấp xã ở Bạc Liêu có những nét riêng đáng chú ý. Về mặt lịch sử, Bạc Liêu là vùng đất mới hình thành (khoảng trên 200 năm). Do điều kiện đất đai, cơ cấu dân cư ban đầu không giống các tỉnh miền Trung, miền Bắc.
Dân cư Bạc Liêu đa số là dân "xiêu tán", nghèo khổ, "tha phương cầu thực". Họ định cư rải rác trên các gò đất cao, dọc các bờ sông, các kênh sáng, từ đó hình thành xóm, ấp, làng, xã. Phong cách ứng xử của người dân địa phương ở Bạc Liêu mang tính cách nông dân thôn dã, chất phát, bộc trực, đồng thời vẫn còn in đậm tính cách lưu dân người Việt đủ tinh thần thực tiễn nhưng thiếu chữ; đủ đạo đức làm dân mà ít thuộc kinh truyện, nên trong dân cư hình thành tâm lý lấy táu (đấu) đong lúa chứ không ai lấy táu (đấu) đong chữ, tức xem nhẹ việc học… Tuy nhiên, sau Cách mạng Tháng Tám thành công và qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vùng đất Bạc Liêu trở thành căn cứ 14 kháng chiến của Nam bộ; nhiều tên đất, tên người đi vào lịch sử trong cuộc trường chinh của đất nước. Đến năm 1975, sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, nhân dân Bạc Liêu cùng cả nước bắt tay vào xây dựng quê hương, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986, quê hương Bạc Liêu có những bước phát triển đáng kể.
Các xã, phường trong tỉnh khang trang hơn; các công trình điện, đường, trường, trạm được các cấp chính quyền quan tâm đúng mức hơn. Hầu hết 61 xã, phường, thị trấn hiện nay đều có đường ô-tô đi đến trụ sở xã, đảm bảo giao thông xã liền xã, ấp liền ấp, có 61/61 xã, phường có trạm y tế, có trường tiểu học, trường trung học cơ sở được phủ sóng phát thanh, truyền hình. Năm 2005, tổng số xã, phường thuộc diện nghèo đói ở Bạc Liêu là 18 xã, phường, trong đó thị xã Bạc Liêu 3; huyện Phước Long 3; huyện Hồng Dân 7; huyện Hoà Bình 2; Vĩnh Lợi 0; huyện Giá Rai 2; huyện Đông Hải 1. Đáng chú ý hơn cả là sự phát triển trong nhận thức của các tầng lớp nhân dân Bạc Liêu.
Đồng bào đã biết coi trọng việc học tập của con cái, tích cực góp công, góp của xây dựng làng quê ngày càng giàu đẹp, có ý thức trong việc bảo vệ tài nguyên môi trường ở địa phương, không còn tình trạng dựng cầu tiêu trên sông hay khai thác bừa bãi các nguồn thủy hải sản…; tóm lại, trình độ dân trí ngày càng được nâng lên. Ở Bạc Liêu có 3 dân tộc sinh sống đan xen, sẵn sàng tương trợ nhau lúc khó khăn, trong đó người Kinh chiếm 89,3% dân số, người Khơ-me chiếm 0,8% dân số, người Hoa chiếm 2,54% dân số, còn một số không đáng kể các dân tộc khác chiếm 0,042% dân số [6, tr. Theo thống kê của Cục Thống kê Bạc Liêu năm 2005, dân số Bạc Liêu là 813.079 người, chiếm gần 1% dân số cả nước. Hằng năm, trên địa bàn các xã, phường, thị trấn ở Bạc Liêu có rất nhiều lễ hội: Người Kinh có lễ hội cúng đình, thờ thần Hoàng Bổn Cảnh có công với nước được triều đình nhà Nguyễn sắc phong.