CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm và những vấn đề liên quan 1. Khái niệm chính quyền cấp xã Trong hệ thống hành chính nước ta, chính quyền cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp hoàn chỉnh: Trung ương, tỉnh, huyện, xã. Vì vậy, cấp xã chính là nền tảng của hệ thống chính trị, đóng vai trò thiết thực trong việc xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp cách mạng nước ta.
Hiến pháp 2013 quy định Chính quyền địa phương bao gồm Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân, trong đó Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng nhân dân “là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương đại diện cho ý chí và nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”. Xuất phát từ vị trí chính quyền cấp xã trong hệ thống chính trị ở cơ sở nên nó có vai trò rất quan trọng trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân. Có thể khẳng định chính quyền cấp xã là cầu nối quan trọng của Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã Tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định về Công chức cấp xã như sau : 9 “Cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Các chức vụ của cán bộ cấp xã được quy định tại Khoản 1, Điều 3 Nghị định 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: - Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; - Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; - Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; - Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; - Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; - Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; - Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với địa phương có hoạt động diêm nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Theo Điều 3, Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Công chức cấp xã gồm các chức danh sau: - Trưởng Công an; - Chỉ huy trưởng Quân sự; 10 - Văn phòng - Thống kê; - Địa chính - Xây dựng - Đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - Nông nghiệp- Xây dựng và môi trường (đối với xã); - Tài chính - kế toán; - Tư pháp - hộ tịch; - Văn hoá - xã hội. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các hình thức khác nhau cho cán bộ công chức phù hợp với yêu cầu giải quyết có chất lượng công việc được các cơ quan nhà nước giao, do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức thực hiện. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức giữ vai trò bổ trợ, tăng cường kiến thức, kỹ năng để người cán bộ công chức có đủ năng lực đáp ứng hoạt động quản lý, điều hành.
Phân biệt giữa đào tạo và bồi dưỡng Đào tạo, bồi dưỡng công chức là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý phát triển nguồn nhân lực của các cơ quan nhà nước nhằm mục tiêu xây dựng, phát triển đội ngũ công chức thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, trung thành với nhà nước và tận tuỵ với công việc phục vụ nhân dân. Quá trình đào tạo, bồi dưỡng bao giờ cũng phải tiến hành trên cơ sở xác định nhu cầu ĐTBD của từng cơ quan, đơn vị, từng vị trí công việc, đồng thời, phải dựa trên sự phân tích những “khoảng trống” về năng lực thực hiện công việc của đội ngũ công chức. Đào tạo, theo định nghĩa chung nhất là quá trình tác động đến con người, làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,. một cách có hệ thống để họ có thể thích nghi với khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, đóng góp phần công sức của mình vào sự phát triển xã hội 11 nói chung.
Đó là quá trình làm cho người ta trở thành có năng lực theo những tiêu chuẩn, đòi hỏi nhất định, là quá trình trang bị những kiến thức, kỹ năng mới. Thời gian đào tạo tương đối dài (từ 01 năm học trở lên) và có bằng cấp, chứng chỉ. Bồi dưỡng là quá trình tác động đến con người làm cho người đó “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”, là quá trình nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách thường xuyên, là tăng cường năng lực nói chung trên cơ sở kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo. Bồi dưỡng đảm đương nhiệm vụ cập nhật, trang bị thêm những kiến thức, kỹ năng, thái độ cho công chức để họ thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn nhiệm vụ được giao.
Như vậy, đào tạo được xem như là một quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”, và bồi dưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”. Việc tách bạch khái niệm đào tạo và bồi dưỡng riêng rẽ chỉ để tiện cho việc phân tích điểm giống và khác nhau giữa đào tạo và bồi dưỡng. Đối với ĐTBD công chức, theo tác giả Ngô Thành Can. “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là quá trình tổ chức những cơ hội học tập cho họ nhằm trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc để họ thực hiện công việc được giao tốt hơn, hiệu quả hơn” [19].
Với quan niệm như vậy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhằm các mục tiêu chính sau: Trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ thực hiện công việc thực tế theo từng vị trí công việc, việc làm của công chức, đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực làm việc hiện tại của cá nhân và tổ chức; 12 TT Tiêu chí Đào tạo Bồi dưỡng so sánh Hoàn chỉnh một bước Làm thay đổi rõ rệt trình độ, hoặc nâng cao một mặt đạt được một mức độ về kiến nào đó trình độ cho người 1 Mục tiêu thức, kỹ năng cụ thể được bồi dưỡng Cung cấp tri thức, kỹ năng Bổ sung các tri thức, kỹ đầy đủ, hoàn chỉnh, có hệ năng, chủ trương, đường 2 Nội dung thống lối của Đảng và nhà nước 3 Hình thức Thường là chính quy Thường là không chính quy 4 Dài hạn Ngắn hạn Thời gian Được xác nhận bằng các loại Được xác nhận qua việc văn bằng theo quy định của cấp cho các học viên các 5 Kết quả nhà nước chứng chỉ bồi dưỡng Trang bị kiến thức, kỹ năng, cách thức làm việc đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm, tiêu chuẩn ngạch của công chức theo yêu cầu của tổ chức; Trang bị, cung cấp kiến thức, kỹ năng, thái độ và cách thức làm việc cần thiết để giúp công chức làm quen, thích ứng với vị trí công việc, việc làm mới do luân chuyển, thuyên chuyển, biệt phái, đề bạt [19, tr. Qua hai khái niệm trên, có thể nhận thấy những điểm khác nhau tương đối giữa hai khái niệm “đào tạo” và “bồi dưỡng”. Từ những phân tích ở trên cho thấy đào tạo được xem như là một quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định và Bồi dưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất. Việc tách bạch khái niệm đào tạo và bồi dưỡng riêng rẽ chỉ để tiện cho việc phân tích điểm giống và khác nhau giữa đào tạo và bồi dưỡng.
Một định nghĩa chung cho ĐTBD, CBCC có thể được hiểu như là quá trình làm biến đổi hành vi con người một cách có hệ thống thông qua việc học tập này có kết quả của giáo dục, hướng dẫn phát triển và lĩnh hội kinh nghiệm theo một cách bài bản có kế hoạch. 13 Từ quan niệm trên, ĐTBD là để phục vụ các mục tiêu chính sau: Một là: Trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ thực hiện công việc thực tế theo từng vị trí công việc, việc làm của CBCC, viên chức theo yêu cầu của tổ chức. Hai là: Trang bị kiến thức, kỹ năng, cách thức làm việc đáp ứng yêu cầu tương lai của vị trí việc làm, tiêu chuẩn của ngạch CBCC, viên chức theo yêu cầu của tổ chức. Ba là: Trang bị, cung cấp kiến thức, kỹ năng, thái độ và cách thức làm việc cần thiết để giúp CBCC, viên chức làm quen, thích ứng với vị trí công việc, việc làm mới do luân chuyển, thuyên chuyển, biệt phái, đề bạt.
Mặc dù giữa đào tạo, bồi dưỡng có những điểm khác nhau tương đối, tuy nhiên trong thực tế nhiều khi khó phân biệt một cách rạch ròi. Do vậy, hai khái niệm này thường được sử dụng cùng nhau: “đào tạo, bồi dưỡng”, “đào tạo - bồi dưỡng” trong việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ, công chức.