Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh và mô hình Thẻ điểm cân bằng Chương 2: Phân tích thực trạng môi trường kinh doanh và định vị chiến lược hiện tại của CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM CREDITRATING Chương 3: Xây dựng chiến lược kinh doanh cho CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM CREDITRATING thông qua việc áp dụng mô hình Thẻ điểm cân bằng. Sau đây là nội dung chi tiết của luận văn. - 13 - CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC KINH DOANH VÀ MÔ HÌNH THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG (BSC) 1.1 TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƢỢC KINH DOANH 1.1 Khái niệm và vai trò của chiến lƣợc “Có chiến lược mà không có chiến thuật là con đường chông gai đi đến thắng lợi. Có chiến thuật mà không có chiến lược thì chỉ là những níu kéo trước khi thất trận mà thôi”.
Tôn Tử Khái niệm chiến lƣợc Thuật ngữ “chiến lược” đầu tiên được sử dụng trong lĩnh vực quân sự. Dần dần, chiến lược được sử dụng trong những lĩnh vực khác của đời sống kinh tế xã hội. Thuật ngữ “chiến lược” là sự kết hợp của từ “chiến” nghĩa là chiến đấu, tranh giành và từ “lược” nghĩa là mưu, tính. Như vậy, theo nguyên gốc, chiến lược là nhưng mưu tính nhằm chiến đấu và quan trọng hơn là để giành chiến thắng1.
Hệ thống chiến lược đang được nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay bao gồm: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, chiến lược phát triển các ngành và lĩnh vực, chiến lược phát triển các lãnh thổ (vùng lớn, vùng kinh tế trọng điểm, tỉnh, thành phố), chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Giữa các chiến lược đó có mối quan hệ hữu cơ, chặt chẽ với nhau. “Chiến lược” là cụm từ rất phổ biến và quen thuộc đối với các doanh nghiệp. Có rất nhiều khái niệm về chiến lược được đưa ra bởi các chuyên gia nổi tiếng ở trên thế giới như Michael E.
Chandler… Theo Michael E.Porter, ông cho rằng: “Chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt hay chiến lược là việc tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của Công ty”2.Chandler viết: “Chiến lược bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản, dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời lựa chọn cách thức, tiến trình hành động và phân bổ các nguồn lực thiết yều để thực hiện các mục tiêu đó”3. Và Lê Văn Tâm của Trường Đại học Kinh tế quốc dân lại viết: “Chiến lược là những cách thức mà nhờ đó những mục tiêu dài hạn có thể đạt được”4. Như vậy mỗi một tác giả có một cách diễn đạt khác nhau về chiến lược nhưng nhìn chung các tác giả đều có cùng quan điểm chiến lược là một chuỗi các hoạt động 1 PGS. Hoàng Văn Hải - chủ biên, trang 9 2 Michael E.Porter 1996, trang 61 3 Alfred D.
Chandler 1962, trang13 4 Lê Văn Tâm 2005, trang 9 - 14 - khác biệt được tổ chức nhằm đạt được mục tiêu dài hạn hay tạo ra vị thế có giá trị độc đáo cho doanh nghiệp. Nói cách khác chiến lược như một cuộc hành trình hướng tới một vị trí mục tiêu lý tưởng, có thể mô tả như Hình 1. Trong hình thể hiện để đi đến một vị thế có giá trị độc đáo doanh nghiệp phải băng qua núi rừng, làng mạc, sông suối…, có rất nhiều con đường để đi, và con đường tốt nhất để đạt được mục tiêu đó chính là chiến lược. Mục tiêu dài hạn/ Vị thế có giá trị độc đáo Vị trí hiện tại của doanh nghiệp Hình 1.1: Mô tả khái niệm về chiến lƣợc Vai trò chiến lƣợc Để nói về vai trò của chiến lược Joel Ross & Michael Kami có nhận định “Một tổ chức không có chiến lược như con tàu không có bánh lái chỉ quay vòng tại chỗ”5.
Như vậy chiến lược có vai trò giúp doanh nghiệp có định hướng, mục tiêu cụ thể, rõ ràng là kim chỉ nam cho các cấp chức năng thực hiện nhằm đạt được mục tiêu dài hạn của tổ chức.2 Các cấp chiến lƣợc6 Chiến lược được phân chia theo ba cấp độ của doanh nghiệp như Hình 1. Trong hình cấp chiến lược cao nhất là chiến lược cấp Công ty/tập đoàn, tiếp đến là chiến lược kinh doanh (SBU) và cuối cùng là chiến lược cấp chức năng. Chiến lược kinh doanh cấp công ty/tập đoàn: là chiến lược mà công ty/tập đoàn xác định được định hướng tổng quát, lĩnh vực kinh doanh, thị trường và liên kết, điều phối chiến lược giữa các SBU. Công cụ dùng để phân tích chiến lược có thể kể đến như ma trận BCG, ma trận Mc Kinsey.com/site/ngoquynham/tai-nguyen-tri-thuc/chien-luoc-kinh-doanh 6 https://sites.com/site/ngoquynham/tai-nguyen-tri-thuc/chien-luoc-kinh-doanh - 15 - Chiến lược kinh doanh (chiến lược cạnh tranh): là việc tạo dựng một vị thế duy nhất và có giá trị nhờ việc triển khai một hệ thống các hoạt động khác biệt với những gì đối thủ cạnh tranh thực hiện, trong đó doanh nghiệp phải xác định được phạm vi kinh doanh, lợi thế cạnh tranh và thiết kế hoạt động (chuỗi giá trị) phù hợp.
Chiến lược chức năng: là chiến lược hướng vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp như chế tạo, tiếp thị, quản lý vật tư, nghiên cứu – phát triển, nguồn nhân lực7. Chiến lƣợc Công ty/tập đoàn Chiến lƣợc kinh doanh Chiến lƣợc kinh doanh (SBU1) (SBU2) Chiến lƣợc chức năng Chiến lƣợc chức năng CL Marketing CL Marketing CL Tài chính CL Tài chính CL Sản xuất CL Sản xuất CL R&D CL R&D Hình 1.2: Các cấp chiến lƣợc Giữa các cấp chiến lược có mối liên kết thống nhất và kế thừa nhau. Chiến lược cấp Công ty/tập đoàn thể hiện chiến lược, định hướng tổng quát, là cơ sở để xây dựng chiến lược kinh doanh và cuối cùng được cụ thể hóa ở cấp chiến lược chức năng. Như vậy chiến lược của doanh nghiệp là một hệ thống xuyên suốt từ Công ty xuống các phòng ban, qua đó mà doanh nghiệp đạt được các mục tiêu dài hạn.3 Quy trình xây dựng chiến lƣợc8 Quy trình xây dựng dựng và triển khai chiến lược được mô tả như Hình 1.3, bao gồm hai chuỗi hoạt động chính là hoạch định chiến lược và triển khai chiến lược.
Với hoạt động hoạch định chiến lược, doanh nghiệp sẽ tiến hành các công việc: Xác định sứ mệnh mục tiêu ngắn hạn, dài hạn của doanh nghiệp Phân tích môi trường bên trong và bên ngoài để xác định cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp. Chọn lựa chiến lược doanh nghiệp sẽ theo đuổi để đạt được mục tiêu kinh doanh 7 Lê Văn Tâm, 2005, trang 9 8 https://sites.com/site/ngoquynham/tai-nguyen-tri-thuc/chien-luoc-kinh-doanh - 16 - căn cứ vào kết quả phân tích môi trường và triển khai xuống cấp phòng ban thực hiện. Phân tích môi Thiết kế cơ cấu trƣờng bên tổ chức ngoài Chiến lƣợc công ty Đảm bảo sự ăn Sứ mệnh Quản lý thay khớp giữ chiến & SWOT Chiến lƣợc kinh doanh đổi lƣợc cơ cấu và Mục tiêu hệ thống kiểm soát Chiến lƣợc chức năng Thiết kế hệ Phân tích nội thống kiểm soát bộ (BSC/KPI) Hoạch định chiến lƣợc Triển khai chiến lƣợc Hình 1.3: Quy trình xây dựng chiến lƣợc Với hoạt động triển khai chiến lược, doanh nghiệp sẽ xem xét, thiết kế cơ cấu tổ chức, hệ thống kiểm soát và quản lý các thay đổi trong quá trình thực hiện để đạt được mục tiêu, chiến lược đã đề ra.4 Phân tích môi trƣờng kinh doanh Môi trường là các định chế hoặc các lực lượng nằm bên trong hay bên ngoài doanh nghiệp và có khả năng ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Môi trường doanh nghiệp có thể được mô tả như Hình 1.4 mô tả môi trường bên trong doanh nghiệp và sự tương tác của doanh nghiệp với môi trường ngành kinh doanh như khách hàng, đối thủ cạnh tranh hiện tại… và các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô như kinh tế, chính trị - pháp luật.
Sự biến đổi của các nhân tố này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy phân tích môi trường kinh doanh giúp doanh nghiệp định lượng được những cơ hội và thách thức tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó quyết định phương án chiến lược phù hợp cho sự phát triển của doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh được chia làm môi trường bên trong (nội bộ doanh nghiệp) và môi trường bên ngoài. Doanh nghiệp kinh doanh trong môi trường nào thì thích ứng với môi trường đấy và thường môi trường bên trong sẽ phải thích nghi với môi trường bên ngoài.
- 17 - Toàn cầu Khách hàng Chính trị - Kinh tế Sản phẩm Pháp luật thay thế Đối thủ cạnh Doanh tranh ngành nghiệp Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Nhà cung cấp Văn hóa xã hội Công nghệ Môi trường ngành kinh doanh Môi trường bên ngoài doanh nghiệp Môi trường vĩ mô Môi trường nội bộ doanh nghiệp Hình 1.4: Doanh nghiệp và môi trƣờng kinh doanh 1.1 Phân tích môi trƣờng ngoài doanh nghiệp Môi trƣờng ngành kinh doanh (cấu trúc ngành) Theo Micheal E.Porter môi trường ngành kinh doanh bao gồm 5 yếu tố còn gọi là 5 áp lực cạnh tranh, bao gồm: các đối thủ cạnh tranh trong ngành, nhà cung cấp, khách hàng, sản phẩm thay thế và các đối thủ cạnh tranh tiềm năng được mô tả như Hình 1. Khách hàng: là các cá nhân, tổ chức, chính phủ và là yếu tố bất định đối với doanh nghiệp vì thị hiếu/nhu cầu có thể thay đổi. Khách hàng có thể là yếu tố tạo sức ép nếu ngành cung cấp gồm nhiều doanh nghiệp nhỏ, số lượng người mua ít và có quy mô lớn hoặc khi người mua mua số lượng lớn và có thể thay đổi nhà cung cấp với chi phí thấp. Đặc điểm của khác hàng là sự nhạy cảm về giá, khả năng đàm phán tác động đến khả năng và quyết định mua hàng.
Nhà cung cấp: cung cấp các yếu tố đầu vào như: nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, vốn, lao động và các dịch vụ thông tin, quản lý, nghiên cứu thị trường…Nhà cung cấp tạo được sức ép khi chỉ có một số ít các nhà cung cấp; sản phẩm của nhà cung cấp có rất ít sản phẩm thay thế và là quan trọng đối với doanh nghiệp hoặc sản phẩm của - 18 - người cung cấp được khác biệt hóa; chi phí chuyển đổi nhà cung cấp cao. Đối thủ cạnh tranh hiện hữu: là những doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn cùng một loại nhu cầu, và tạo sức ép với doanh nghiệp khác thông qua giá, dịch vụ, phát triển sản phẩm mới… Đối thủ cạnh tranh tiềm năng: là những doanh nghiệp có thể gia nhập ngành góp vào danh sách các đối thủ cạnh tranh hiện hữu.