CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG THỰC TẾ NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN CỦA HỌC SINH 1. Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh 1.1 Khái niệm năng lực Năng lực là một cấu trúc tâm lý rất phức tạp và có những đặc trưng riêng phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định. Đề cập đến vấn đề năng lực, các nhà tâm lý học cho rằng chỉ một số năng lực có mầm mống di truyền các tư chất nhưng từ chỗ đó đến sự hình thành năng lực hoàn chỉnh, hình thành tài năng thiên tài, như từ mầm tới cây trổ hoa kết quả còn rất xa.
Nhưng tư chất phải được nuôi dưỡng và phát triển đúng “thì” bằng những hoạt động thích hợp, đúng “cách”, trong những môi trường thuận lợi mới trở thành năng khiếu. Tiếp đó phải rèn luyện có hệ thống để lĩnh hội hệ thống các tri thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, phẩm chất, ý chí… thích hợp, đồng bộ thì năng khiếu mới phát triển thành tài [10]. Khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều cách khác nhau: Năng lực (cũng tương tự như cường độ vector) nói lên người đó có thể làm gì, làm đến mức nào, làm với chất lượng ra sao. Thông thường người ta còn gọi là khả năng hay “tài” [10] “Năng lực là những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục” [10].
“Năng lực là tổ hợp của các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những nhu cầu của một hoạt động nhất định, bảo đảm cho hoạt động đó hoạt động có kết quả” [7]. Năng lực là “những đặc điểm tâm lý của nhân cách, là điều kiện chủ quan để thực hiện có kết quả một dạng hoạt động nhất định. Năng lực có quan hệ với kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo. Năng lực thể hiện ở tốc độ, chiều sâu, tính bền vững và phạm vi ảnh hưởng của kết quả hoạt động ở tính sáng tạo, tính độc đáo của phương pháp hoạt động.
Một số năng lực có thể đo được bằng trắc nghiệm” [10]. 4 “Năng lực của học sinh là sự kết hợp hợp lý theo kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề” (Weinet, 2001) [3]. Trong cuốn “Tâm lý học” (1995, nxb GD), GS. Phạm Minh Hạc đưa ra khái niệm: “Năng lực bao gồm cả khái niệm như năng khiếu, khả năng, sở trường, tài… Nó cũng bao gồm cả năng lực tiềm năng và năng lực hiện thực, năng lực đơn giản và năng lực phức hợp (hay sự phức tạp) [10].
Năng lực có mối quan hệ mật thiết với tri thức và kĩ năng, kĩ xảo. Kĩ năng là phương thức vận dụng tri thức vào hoạt động thực hành đã được củng cố. Kĩ xảo là những hành động đã trở nên tự động hóa nhờ luyện tập. Tri thức, kĩ năng và kĩ xảo trong một lĩnh vực nào đó là điều kiện cần thiết để hình thành năng lực trong lĩnh vực ấy.
Năng lực góp phần làm cho quá trình tiếp thu tri thức và kĩ năng, kĩ xảo diễn ra nhanh chóng và thuận lợi hơn. Như vậy, trong luận văn quan niệm “năng lực là sự kết hợp hợp lý theo kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề, phát triển vấn đề trong những tình huống cụ thể”. Năng lực vận dụng vận dụng kiến thức vào thực tiễn 1.1 Khái niệm Có nhiều cách hiểu về NLVDKTVTT như theo tác giả Trịnh Lê Hồng Phương định nghĩa: “Năng lực vận dụng kiến thức là khả năng người học sử dụng những kiến thức, kĩ năng đã học trên lớp hoặc học qua trải nghiệm thực tế của cuộc sống để giải quyết những vấn đề đặt ra trong những tình huống đa dạng và phức tạp của đời sống một cách hiệu quả và có khả năng biến đổi nó. Năng lực vận dụng kiến thức thể hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình hoạt động để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức”; theo nhóm tác giả Lê Thanh Huy, Lê Thị Thảo: “Năng lực vận dụng kiến thức là khả năng của bản thân người học tự giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng và hiệu quả bằng cách áp dụng kiến thức đã lĩnh hội vào những tình huống, những hoạt động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó.
Năng lực vận dụng kiến thức của HS là khả năng của HS có thể vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết thành công các tình huống học tập hoặc tình huống thực tế trong đời sống hằng ngày” [4]. 5 Theo chúng tôi NLVDKTVLVTT được hiểu như sau: “Năng lực vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn là khả năng chủ thể vận dụng tổng hợp những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú,. để giải quyết có hiệu quả các vấn đề của thực tiễn có liên quan đến vật lí” 1.2 Cấu trúc Theo [2] thì thành tố năng lực VDKTKN đã học trong một số trường hợp đơn giản,bước đầu sử dụng toán học như một ngôn ngữ và công cụ để giải quyết được vấn đề;biểu hiện cụ thể là: - Giải thích, chứng minh được một vấn đề thực tiễn. - Đánh giá, phản biện được ảnh hưởng của một vấn đề thực tiễn.
- Thiết kế được mô hình, lập được kế hoạch, đề xuất và thực hiện được một số phương pháp hay biện pháp mới. - Nêu được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp để bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu; có hành vi, thái độ hợp nhằm phát triển bền vững. Theo chương trình giáo dục phổ thông môn Vật lí mới, từ các hành vi biểu hiện trong năng lực VDKTKN đã học thì chúng tôi đưa ra cấu trúc có phân mức như sau: Bảng 1. Cấu trúc năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học có phân mức Thành tố Hành vi Mức độ biểu hiện năng lực M1.
Giải thích, chứng minh được một vấn đề thực tiễn tương tự và đơn giản. Giải thích, chứng minh M2. Giải thích, chứng minh được được một vấn đề thực một vấn đề thực tiễn tương tự. Giải thích, chứng minh được một vấn đề thực tiễn mới và phức hợp.
Mô tả được ảnh hưởng của một 2. Đánh giá, phản biện vấn đề thực tiễn đơn giản. được ảnh hưởng của một M2. Giải thích được ảnh hưởng của Vận dụng kiến vấn đề thực tiễn.
(HV2) một vấn đề thực tiễn mới. Đánh giá, phản biện được ảnh 6 học hưởng của một vấn đề thực tiễn mới. Mô tả được mô hình, lập được kế hoạch, đề xuất và thực hiện được một số phương pháp hay biện pháp tương tự đơn giản. Thiết kế được mô hình, M2.
Giải thích được mô hình, lập lập được kế hoạch, đề được kế hoạch, đề xuất và thực hiện xuất và thực hiện được được một số phương pháp hay biện một số phương pháp hay pháp tương tự. biện pháp mới. Thiết kế được mô hình phức hợp, lập được kế hoạch, đề xuất và thực hiện được một số phương pháp hay biện pháp mới. Mô tả được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp để bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu; có hành vi, thái độ hợp 4.
Nêu được giải pháp và nhằm phát triển bền vững. thực hiện được một số M2. Giải thích được giải pháp và giải pháp để bảo vệ thiên thực hiện được một số giải pháp để nhiên, thích ứng với biến bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với đổi khí hậu; có hành vi, biến đổi khí hậu; có hành vi, thái độ thái độ hợp nhằm phát hợp nhằm phát triển bền vững. triển bền vững.
Đề xuất được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp để bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu; có hành vi, thái độ hợp nhằm phát triển bền vững. Bài tập vật lí và bài tập vật lí có nội dung thực tế 1. Khái niệm bài tập vật lí Khái niệm BTVL được hiểu là một vấn đề được đặt ra, để giải quyết gồm cá được vấn đề đó, đòi hỏi phải có những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, những suy luận logic, phép toán và thí nghiệm trên cơ sở các kiến thức Vật lí. BTVL là phương tiện giúp HS củng cố, trao dồi kiến thức, rèn luyện tiêu chí luyện kĩ năng và góp phần phát triển tư duy.
BTVL cũng là phương tiện giúp GV đánh giá được quá trình học tập của người học. “Bài tập vật lí được hiểu là một vấn đề được đặt ra mà trong trường hợp tổng quát đòi hỏi những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật và các phương pháp vật lí…” [2] Các BTVL thường bao gồm các điều kiện giả thiết ban đầu và các yêu cầu cần hoàn thành, tức là trong một BTVL sẽ có thể chứa đựng một hoặc nhiều câu hỏi vật lí. BTVL và câu hỏi vật lí có liên quan chặt chẽ và tác động qua lại, bổ trợ cho nhau trong quá trình dạy học. Có rất nhiều dạng BTVL và mỗi dạng BTVL được xây dựng nhằm mục đích dạy học khác nhau, GV sẽ tùy vào yêu cầu, mục đích bài học hoặc các tình huống sư phạm cụ thể để lựa chọn dạng BTVL thích hợp với người học.
Hệ thống BTVL được sử dụng trong chương trình dạy học, trong SGK, sách bài tập đều có nội dung bám sát với các hiện tượng, quy luật, định luật vật lí được giảng dạy trong chương trình. HS giải BTVL cần kết hợp các đại lượng, khái niệm, định lí, định luật, xâu chuỗi và kết nối chúng với nhau, từ đó thực hiện các yêu cầu bài tập đặt ra, thông qua đó liên hệ các kiến thức vật lí được học với các hiện tượng thực tế ngoài đời sống. Trong quá trình dạy học, GV không chỉ truyền đạt kiến thức vật lí đơn thuần mà còn có nhiệm vụ giúp học sinh phát triển các năng lực cần thiết thông qua hệ thống các câu hỏi và BTVL như một công cụ dạy học. BTVL đóng vai trò như những nhiệm vụ học tập được GV đưa ra cho HS, là phương tiện để giáo viên tổ chức các hoạt động dạy học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập cũng như các năng lực thiết yếu của HS.