ĐẶT VẤN ĐỀ Cây lúa (Oryra sativa L.) là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới: Lúa gạo, lúa mỳ và ngô. Sản phẩm lúa gạo là nguồn lương thực nuôi sống hơn một nửa dân số trên thế giới nhất là ở các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh. Để đảm bảo cho cuộc sống con người trước tiên là đủ lương thực rồi đến xoá đói giảm nghèo thì việc tăng lượng lương thực nói chung và lúa gạo nói riêng là nhiệm vụ sống còn của mỗi quốc gia. Song, vấn đề đặt ra hiện nay là trong khi dân số thế giới tiếp tục gia tăng thì diện tích đất dành cho việc trồng lúa lại không tăng, nếu không muốn nói là giảm theo thời gian.
Trong bối cảnh đó, vấn đề lương thực được đặt ra như một mối đe dọa đến an ninh và ổn định của thế giới trong tương lai. Theo dự đoán của các chuyên gia về dân số học, nếu dân số thế giới tiếp tục gia tăng với tốc độ như hiện nay trong vòng 20 năm tới thì sản lượng lúa gạo phải tăng 80% mới đáp ứng đủ cho nhu cầu lương thực cho người dân. Trong điều kiện khó khăn đó người ta phải suy nghĩ đến một chiến lược để tăng sản lượng lúa gạo. Ở Việt Nam sản xuất lúa nước vẫn là một ngành quan trọng, truyền thống trong nền nông nghiệp.
Sản xuất lúa gạo đã, đang và sẽ tiếp tục là một trong những trụ cột của an ninh lương thực. Cây lúa phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu của Việt Nam và là cây trồng chính trong hệ thống canh tác của hầu hết các vùng trong cả nước. Sản xuất lúa gạo cũng là nghề truyền thống của nông dân Việt Nam. Tầm quan trọng của nó được ghi nhận thông qua các nghi lễ và lễ hội truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc của các vùng quê Việt Nam.
Từ năm 1981, khi chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường định hướng của nhà nước. Ngành nông nghiệp đã phát triển nhanh chóng với tốc độ 4,1-4,5% trên năm. Nhân tố chính tác động đến tăng trưởng trong ngành nông nghiệp là ngành sản xuất lúa gạo. Sản xuất lúa tăng hơn 6,5%/năm trong giai đoạn 1980-1990, đạt 6,9%/năm trong giai đoạn 1990-2000 và 7,1%/năm trong giai đoạn 2000-2005.
Năng suất lúa tăng từ 2,02 tấn/ha (1976- 1980) lên 2,78 tấn/ha (1985), 3,19 tấn/ha (1995), 4,25 tấn/ha (2000), 4,89 tấn/ha (2005), 5,3 tấn/ha (2009) và 5,76 tấn/ha (2016). Tổng sản lượng lúa cũng tăng 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tương ứng từ 19,2 triệu tấn năm 1990 lên 25,0 triệu tấn năm 1995, đạt 32,5 triệu tấn năm 2000, đạt 35,8 triệu tấn năm 2005 và 45,6 triệu tấn năm 2016. Như vậy, Việt Nam đã chuyển từ một nước sản xuất tự cung tự cấp, thiếu đói sang một nước đảm bảo an ninh lương thực và vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới với sản lượng xuất khẩu hàng năm từ 4-5 triệu tấn gạo. Tuy nhiên, trong tương lai Việt Nam cần sản xuất lương thực để đáp ứng nhu cầu tăng dân số.
Dân số Việt Nam đã tăng 73% trong giai đoạn 1960-1990 và dự kiến tăng 62% trong ba thập kỷ tới. Theo dự báo của Ngân hàng thế giới (WB) đến năm 2025 dân số Việt Nam sẽ đạt khoảng 116 triệu người và tiếp tục tăng với tốc độ 1,1% năm, lúc đó Việt Nam sẽ cần khoảng 33,6 tấn lương thực qui thóc để đảm bảo nhu cầu trong nước thêm vào đó là 4- 5 triệu tấn gạo phục vụ cho xuất khẩu hàng năm. Đây là thách thức rất lớn cho ngành nông nghiệp Việt Nam. Là một tỉnh phía nam đồng bằng sông Hồng, Thái Bình là tỉnh trọng điểm sản xuất lúa gạo của vùng này.
Năng suất lúa bình quân trong tỉnh đứng hàng đầu cả nước với sản lượng lúa trong những năm qua đạt trên 1 triệu tấn/năm. Bên cạnh đó,tỉnh đã có nhiều chính sách khuyến nông, tập trung cho thâm canh, tăng hệ số sử dụng đất, hoàn chỉnh và xây dựng các công trình thủy lợi, đưa các giống mới vào sản xuất.Trong bối cảnh chuyển một phần diện tích canh tác lúa sang cây trồng khác và sản xuất công nghiệp, đô thị , dịch vụ. thì vấn đề đặt ra trong sản xuất lúa của Thái Bình là phải đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn vì vậy yêu cầu sản lượng ngày càng tăng để đáp ứng đủ nhu cầu về lương thực khi dân số gia tăng. Đồng thời phải thay đổi bộ giống có chất lượng thấp như hiện tại bằng những giống có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu về chất lượng lương thực, phục vụ cho xuất khẩu nhằm nâng cao giá trị thu nhập trên 01ha đất canh tác.
Giống lúa thuần chất lượng Đông A1 do Công ty Cổ phần Tổng công ty giống cây trồng Thái Bình chọn lọc từ tập đoàn lúa nhập nội có nguồn gốc từ Ấn Độ. Giống Đông A1 có thời gian sinh trưởng ở các tỉnh miền Bắc trong vụ Xuân 130 - 135 ngày, vụ mùa 105- 110 ngày. Giống Đông A1 có nhiều đặc điểm hơn hẳn các giống lúa chất lượng hiện nay như: có khả năng chịu rét, mặn tốt, có dạng hình đẹp lá đòng thẳng đứng, gọn khóm, đẻ nhánh khá, cứng cây, trỗ bông tập trung, chống chịu sâu bệnh khá tốt, nhiễm đạo ôn ở vụ xuân và bạc lá ở vụ mùa nhẹ hơn Bắc Thơm 7. Đây là giống triển vọng hoàn toàn thay thế cho các 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giống lúa chất lượng hiện nay như Bắc thơm 7, Nàng xuân, T10 .Năng suất cao hơn Bắc Thơm 7 từ 15 - 20%, trung bình đạt 58 - 65 tạ/ha, thâm canh cao có thể đạt 70 tạ/ha.
Hạt gạo trong, trắng, đẹp, cơm mùi thơm đặc trưng, mềm, đậm, dai, rất ngon. Nhằm phát triển giống lúa thuần chất lượng Đông A1 tại Thái Bình chúng tôi tiến hành đề tài“Xác định lượng đạm bón và mật độ cấy thích hợp cho giống lúa chất lượng Đông A1 tại Đông Hưng-Thái Bình”. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục đích Xác định được lượng phân bón và mật độ cấy thích hợp để từ đó thiết lập quy trình canh tác giống lúa thuần chất lượng Đông A1 tại tỉnh Thái Bình.
Yêu cầu của đề tài Đánh giá được một số đặc điểm nông sinh học, đặc điểm hình thái, mức độ nhiễm sâu bệnh và năng suất của giống lúa thuần Đông A1 tại các mật độ cấy, mức phân bón khác nhau trong vụ Xuân và vụ Mùa năm 2016 tại Đông Hưng - Thái Bình. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài sử dụng làm tài liệu tham khảo góp phần định hướng cho việc nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh cũng như đề xuất xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh cho giống lúa Đông A1 tại Thái Bình. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu đề tài xác định được mật độ cấy và lượng phân bón thích hợp để giống Đông A1 đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao, góp phần tích cực trong việc chỉ đạo, hướng dẫn kỹ thuật thâm canh giống lúa Đông A1 tại Thái Bình.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA GẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng và có khả năng thích nghi rộng với các vùng khí hậu.
Cây lúa được trồng ở rất nhiều vùng trên thế giới nhưng tập trung chủ yếu ở châu Á (chiếm 90%) với nhiều nước sản xuất lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan. Sản xuất lúa gạo trong những thập kỷ gần đây đã có mức tăng đáng kể, nhưng do dân số tăng nhanh, nhất là các nước đang phát triển (Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh) nên vấn đề lương thực vẫn là vấn đề phải quan tâm trong những năm trước mắt và lâu dài. Diện tích trồng lúa trên thế giới đã tăng rõ rệt từ năm 1955 đến 1980. Trong vòng 25 năm này, diện tích trồng lúa trên thế giới tăng bình quân 1,36 triệu ha/năm.
Từ năm 1980, diện tích lúa tăng chậm và đạt cao nhất vào năm 1999 (156,77 triệu ha) với tốc độ tăng trưởng bình quân 630. Từ năm 2000 trở đi diện tích trồng lúa thế giới có nhiều biến động và có xu hướng giảm dần, đến năm 2005 còn ở mức 152,9 triệu ha. Diện tích trồng lúa tập trung ở Châu Á (khoảng 90%). Sản lượng gạo của thế giới liên tục tăng từ mức 417 triệu tấn vào năm 2005 lên 479 triệu tấn vào năm 2013 (tăng 14,8%), chủ yếu nhờ năng suất tăng.
Sau khủng hoảng giá lương thực năm 2008, nhiều nước tăng đầu tư cho sản xuất lúa gạo. Trên thế giới hiện có trên 40.000 chủng loại lúa gạo đang được canh tác thuộc ba nhóm chính gồm Indica (trồng tại Đông Nam Á và Nam Á), Japonica (Bắc Á, Bắc Mỹ), Japonica nhiệt đới (Nam Mỹ và một số vùng châu Phi) và gạo thơm aromatic (như jasmine của Thái Lan, Việt Nam, basmati của Ấn Độ, Pakistan). Gạo Indica chiếm khoảng 75% giao dịch gạo toàn cầu, Japonica khoảng 10%, aromatic chiếm 12-13%. Dự báo 10 năm tới sản lượng gạo thế giới đạt trên 530 triệu tấn, tăng trên 10% so với hiện nay.
Năm nước sản xuất gạo lớn nhất tập trung tại châu Á gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam chiếm 70% sản lượng toàn cầu (OECD/FAO, 2014). Trong khi các nước sẽ vẫn phải duy trì một lượng gạo chất lượng trung bình và thấp vừa đủ để đảm bảo an ninh lương thực, do mức sống tăng lên nên gạo chất lượng cao sẽ được đầu tư sản xuất nhiều hơn (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2015). 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong 10 năm tới, thương mại gạo toàn cầu sẽ tăng 1,5% mỗi năm (từ niên vụ 2014/15 đến niên vụ 2023/24), nhờ tốc độ tăng trưởng ổn định của nhu cầu, nhiều nước nhập khẩu không thể đẩy mạnh sản xuất do hạn chế về điều kiện tự nhiên, nguồn lực và dịch bệnh (USDA, 2014). Lượng tiêu thụ gạo toàn cầu dự báo đạt khoảng 500 triệu tấn vào 10 năm tới (tăng 10% so với hiện nay) và khoảng 535 triệu tấn vào năm 2030.
Tiêu thụ gạo của châu Á chiếm khoảng 2/3 tổng cầu về gạo của thế giới vào năm 2030 (OECD/FAO, 2014). Theo FAO (2013), dẫn đầu năng suất lúa là Mỹ, rồi đến Hy Lạp, El Salvador, Tây Ban Nha với trên 7 tấn/ha.