CHƯƠNG 1 MOT SÓ VAN DE LÝ LUẬN VE DI SAN THỪA KÉ 1. Khái quát chung về di sản thừa kế 1111. Khái niệm đi sản Dưới góc độ của phạm trù triết hoc, thé giới vật chat luôn biến đổi không ngừng và có sự tiếp nổi của các sự vật, hiện tượng, cái tôn tại sau là kết qua của sự biên đổi xảy ra ở giai đoạn trước. Thê giới loài người cũng như vây, con người chuyển từ săn bắt, hai lượm sang trồng trọt, chăn nuôi, nhờ có lao đông mà con người biển đôi, phát triển một cách nhanh chóng.
Khi các thé hệ trước chết đi thi các thé hệ đời sau được ké thửa những thứ vật chat của đời trước để lại Không chi kế thừa thé giới vat chat trong tự nhiên, con người còn kê thừa những thành qua khác nữa, có thé là giá trị vật chất, cũng có thé là giá trị tinh thân của x4 hội con người đi trước dé lại, những thứ ma họ có được lả do lao động, cải tao và tích lũy. Để chỉ những giá trị mả người đi trước để lại, thuật ngữ “di sản” thường được sử dụng. Theo từ điển Tiéng ViệP, “di sản” 1a một từ Hán Việt được ghép bởi hai từ “di” và “sản”, theo đó môi từ có cách hiểu khác nhau, tùy vao ngữ cảnh cu thể. Với những góc đô khác nhau, từ “đi” có thể được hiểu đó là biểu hiện của sự chuyển động ra khỏi vị trí nhật định thông qua sự tác đông nào đó lên một vật để lại dâu vết nhất định.
“Di” cũng được hiểu la di đời di nơi khác, không còn ở vị trí ban đầu, nó là một biểu hiện của sự chuyển đông từ vị trí nay dén vị trí khác cả trong không gian vả thời gian. Ngoài ra “di” còn được hiểu là sự truyền lại, lưu lại, để lại cho người thể hệ sau. Như vậy, với các nghĩa trên, từ “đi” có thể được hiểu một cách chung nhật là sư dịch chuyển sự vật, hiện tượng lam thay đôi vị trí của chúng trong không gian va thời gian. Sự thay doi vị trí của chúng bao giờ cũng Từ điến Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, nxb Hồng Đức, năm 2021 6 di kèm với yêu tô trước và sau.
No co thé diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định, có thể ngắn hoặc dài. Đôi với từ “sản” cũng có thé hiểu theo nhiêu nghĩa khác nhau. “San” có thé là sinh ra, làm ra, tao ra sản phẩm dé sinh sóng, có thé lả cái do con người tạo ra, là kết qua tư nhiên của qua trình lao động sản xuật. Hay cũng có thể là hoạt động sinh sản tư nhiên tao nên một thé hệ mới.
Tuy nhiên, khi đi với từ “di” thi từ “sản” sé mang ngiĩa là tai san, là sản nghiệp của ca nhân thông qua việc lao đông và mang lại lợi ích cho con người. Theo đó, trong từ điển Tiếng Việt thì “di sản” được hiểu theo ngiữa: là tai sẵn của người chết để lại; hay là cái của thời kì trước để lại (như văn hóa, kinh tế, pháp luật.) Trong từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, khái niệm di sản được định nghĩa như sau?: “Di sản” là tai sản (tư liệu sản xuất, tư liêu sinh hoạt, các thu nhập hợp pháp khác) của người chết dé lại, gồm những tai sản thuộc sở hữu của người chết, phân tải sản của người chết trong tải sản chung với người khác, quyên và nghĩa vụ tải sản do người chết để lại. Trong từ điển Luật hoc* cũng định nghĩa: Di san là tai sẵn mà người chết để lại, bao gôm: tai sản mà người chết chủ sở hữu, quyên sử dung dat theo quy định của pháp luật. O đây, “di sản” được đồng nhất voi “di sản thừa kể”.
Ngoài ra, theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, “di sản” con mang nghĩa là di sản văn hóa vật thé vả di sản văn hóa phi vật thể. Tat cả đính nghĩa déu chứa nội ham của từ “di sản” đó là: các gia trị vật chat và tinh thân dang ton tại, hay được thê hệ trước tao dung, bao tôn, duy trì và dé lại cho thê hệ sau. ` Từ điển bách hoa Việt Num, Nxb. Tử Điển Bích Khoa Hà Nội năm 2003 3 Từ điển hật học, Nzb.
Tư pháp năm 2006 7 Từ những định nghĩa trên, có thé rút ra định nghĩa “di sản” từ góc đô pháp lý như sau: Di sản 1a toản bộ tai sản có gia trị vật chất hoặc giá trị tinh thân được chuyển dịch từ thé hệ trước sang thể hệ sau và được pháp luật ghi nhận va bao vệ. Khái niệm đi sản thừa kế Xã hôi ngày càng phát triển, phạm vi tai sản thuộc sở hữu cá nhân càng tăng thì phạm vi di sản ngày cảng lớn va đa dạng. Quyên thừa kéluôn đi liên với tải san thuộc quyền sỡ hữu của người chết để lại. Quan hệ thừa ké và quan hệ sỡ hữu có mỗi liên hệ chặt chế với nhau, nêu muốn thực hiện việc thừa kê thi đâu tiên phải xác đính do là tai sản thuộc sở hữu của người chết để lại.
Tìm hiểu và xác định đúng di sản thừa ké có ý nghĩa vô cùng quan trọng, bởi việc xác định di sản thừa kế là khâu dau tiên mang tính quyết định cho các bước tiép theo trong quan hệ pháp luật về thừa kế° Thuật ngữ “di sản” được sử dụng khá phô biến trong nhiều lĩnh vực của đời sông. Tuy vậy, trong từng lĩnh vực cụ thé như: văn hóa — x4 hội, kinh tế. thì thuật ngữ nay lại được hiểu với những ý nghĩa khác nhau. Trong lĩnh vực pháp luật, thuật ngữ “di sản thừa kế” được các nhà lam luật sử dung trong pháp luật dân sư.
Nó được hiểu như phân tai san thuộc sở hữu hợp pháp của người chết để lại cho những người còn sông khác. Từ trước đến nay, chưa có một văn bản pháp luật nào ở Việt Nam đưa ra định nghĩa thé nao di sản thừa kế, ma chỉ đơn giãn liệt kê các loai di sản thừa kê. Bên cạnh đó, khi xem xét về van dé di sản thừa ké hiện nay có rất nhiêu cách hiểu cũng như quan điểm khác nhau về di sản thừa kế. “Thừa kế" la động từ dùng dé chỉ “duoc hưởng tai sản, của cải vật chat do người chết để lại cho.” Trên phương diện pháp lý, theo Từ điển Luật học do Nxb Từ điển Bách khoa — Nha xuat bản Tư pháp ban hành năm 2006 thì “thừa kể” 1a sự chuyển dich tai sản của người chết “ign binh Tần G009) Rip sin của Việt Nam - Những vin đề ý hân và thưực tiến, Nxb Lao động * Theo Đại từ điền tiếng Việt, Nob.
Vấn hóa — Thông thị, năm 1998 8 cho người còn sống. Trước đó, Nha xuất bản Giáo duc cũng đã ban hành “Sô tay thuật ngữ pháp ly” năm 1996 và ghi nhân một khái niệm tương tự như trên đó là “thửa kể" là việc dich chuyển di sản của người đã chết cho những người còn sông. Thừa ké 1a một quan hệ xã hội gắn với quan hệ sở hữu, néu như sở hữu là yêu tổ đầu tiên dé từ đó xuất hiện quan hệ thừa kê thi thừa ké la phương tiên dé duy tri chế độ sở hữu Trải qua ting thời kì lich sử xã hội, quan niêm về di sản thửa kế từ tục lệ, luật cô, luật cân đại cho đến luật hiện đại luôn có sư khác nhau và thay đôi trong việc nhận thức tng thé về di sản thừa kế. Xuất phat từ việc quy định của pháp luật chưa đưa ra một khái niệm cụ thể vé di sản thừa kế, vi thé, khi nói về di săn thừa kê van còn tôn tại ba quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, di sản thừa kế bao gồm tai sản và các nghĩa vụ tài sản của người chết để lại.
Có thể hiểu quan điểm này rằng khi còn sông, người để lại di sản thừa kế ngoài những tai sn có trong tay thi họ còn những khoản nợ hay còn gọi là nghĩa vụ tai sản Những nghia vụ tài san nay phat sinh từ các quan hệ dân sự như: nghia vụ phải trả nợ trong hop đông vay, nghĩa vu trả tiên thuê trong hợp đông thuê tài sản, nghĩa vụ bôi thường thiệt hại trong quan hệ bôi thường thiệt hại ngoài hợp đông. Khi ho chết đi, họ để lại các nghĩa vụ về tải sản, các nghĩa vụ nảy phải được dịch chuyển sang cho người thừa kê thực hiện. Có như vậy mới dam bảo quyên lợi cho người mang quyên đối với các nghĩa vụ mA người chết phải thực hiện khi còn sống, đông thời cũng bảo dam cho các quan hệ dân sự đã phát sinh do người chết từng là chủ thé tham gia được thực hiện theo đúng cam kết cũng như theo quy định của pháp luật. Quan điểm nảy chỉ phù hợp khi tai san của người chết va tai sản của gia đình là một, hay tai sản là của chung.
Cũng như “nợ của gia đình” và nợ của người chết không phân biệt được, bởi các in Thị Hud (2007), Di sin toa kế trong pháp huit din sự Việt Nam, Luin án titn sĩ mật học, trường Dai học Luật Hi Nội. 9 khoản nơ phát sinh từ việc tham gia giao dich của toàn gia dinh chứ không phải chỉ do cá nhân Có nghĩa là các khoản tai sản có của người chết trở thành tai sản của người thừa kê, đông thời, nợ của người chết cũng là nợ của những người thừa kế, bat ké tai sản thừa kế có đủ dé thanh toán hay không. Vô hình chung chúng ta thừa nhận, từ thời điểm mở thừa kê, hai chủ thé nay là một với tư cách thanh toán nợ cho chủ thể mang quyền. Người thừa kế có nghĩa vụ trả nợ vô hạn, phải tra cho hết nợ, cho di phan di sản được hưởng rat it so với phân nghĩa vụ phải trả.
Nếu những nghĩa vụ từ giao dịch dân sự nhân danh cá nhân mà buộc người thừa kế phải thực hiện vô hạn thi lại trở về luật tục “phụ trái tử hoàn”. Luật tục nảy được người dân ngày xưa coi là đạo hiểu với bac sinh thành, nhưng bản chất sâu xa là củng cô duy trì chế độ bóc lột của bon dia chủ, cường hao đối với khoản nợ truyền kiếp của những người nông dân. Luật tục bat công của ché đô cũ đã bị xóa bỏ hơn 70 năm qua bằng những quy định của Sắc lệnh sô 97/SL ngày 22/5/1950. Quan điểm thứ hai lại cho rang, di sản thừa kế bao gôm tai sản và nghĩa vụ tai sản trong phạm vi di sản của người chết dé lại.