Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9229040) với đề tài "Vốn xã hội trong lễ hội Đền Và, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thùy Linh thực hiện tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Hoài Sơn và PGS. Dương Văn Sáu.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo số liệu thống kê được tác giả nêu trong văn bản, Việt Nam hiện có trên 8.000 lễ hội trải dài khắp ba miền đất nước, đặc biệt tập trung tại miền Bắc vào dịp "Xuân Thu nhị kỳ". Trong hơn hai thập kỷ qua, việc thực hành tín ngưỡng dân gian và tổ chức lễ hội có sự trỗi dậy mạnh mẽ. Sự phục hưng này kéo theo việc mở rộng quy mô tổ chức, đồng thời làm biến đổi mối quan hệ tương tác giữa Nhà nước và cộng đồng địa phương. Không gian lễ hội truyền thống không còn thuần túy là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh khép kín của cư dân làng xã ("người làng ta"), mà đã trở thành môi trường củng cố bộ máy chính quyền, thiết lập mạng lưới quan hệ xã hội, thúc đẩy các hoạt động kinh doanh buôn bán và đáp ứng nhu cầu lợi ích đa dạng của nhiều nhóm xã hội khác nhau.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực trạng các công trình khoa học trước đây khi nghiên cứu về lễ hội Đền Và và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Tản chủ yếu tiếp cận dưới góc độ văn học dân gian hoặc văn hóa học mô tả (tập trung khảo sát thần tích, truyền thuyết, thời gian, không gian, diễn trình nghi lễ và nhiệm vụ của các bên tham gia). Các tài liệu này thiếu sự quan tâm đúng mức đến cơ sở hình thành, phương thức biểu hiện và những lợi ích cụ thể từ vốn xã hội mà Nhà nước và cộng đồng thu nhận được trong quá trình thực hành tín ngưỡng và tổ chức lễ hội. Bên cạnh đó, đa số các nghiên cứu về vốn xã hội tại Việt Nam trước đây chủ yếu nghiêng về kinh tế học, luật học hoặc chính trị - xã hội, ít có công trình tiếp cận vốn xã hội trực tiếp từ góc nhìn văn hóa trong một lễ hội truyền thống cụ thể.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở hình thành, biểu hiện và lợi ích của vốn xã hội trong lễ hội Đền Và từ quá khứ đến hiện tại.
Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa và phân tích khái niệm "vốn xã hội" cùng các khái niệm liên quan; mô tả dân tộc học về thời gian, không gian, diễn trình lễ hội cũng như sự hình thành và các lớp ý nghĩa văn hóa của hình tượng Đức Thánh Tản.
- Phân tích và lý giải các đặc trưng nổi bật của vốn xã hội của Nhà nước và cộng đồng trên các phương diện: cơ sở hình thành, biểu hiện và lợi ích; qua đó làm sáng tỏ vì sao tín ngưỡng và lễ hội là môi trường giúp các bên tạo lập và sử dụng nguồn vốn này.
- Nhận diện và phân tích các vấn đề đặt ra từ vốn xã hội trong lễ hội Đền Và giữa Nhà nước và cộng đồng, đồng thời chỉ ra xu hướng biến đổi và phát triển của nguồn vốn xã hội này trong tương lai.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Thông qua tín ngưỡng và lễ hội, vốn xã hội dưới góc độ Nhà nước đã được hình thành, biểu hiện và đem lại những lợi ích như thế nào?
- Thông qua tín ngưỡng và lễ hội, vốn xã hội dưới góc độ cộng đồng đã được hình thành, biểu hiện và đem lại những lợi ích như thế nào?
- Mối quan hệ hai chiều giữa Nhà nước và cộng đồng trong việc tạo lập và sử dụng nguồn vốn xã hội là gì? Xu hướng vận động và biến đổi của vốn xã hội trong lễ hội Đền Và hiện nay là gì?
Tương ứng với 3 câu hỏi trên, luận án xây dựng 3 giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết thứ nhất: Vốn xã hội được hình thành, biểu hiện và đem lại lợi ích thông qua quá trình Nhà nước quản lý tín ngưỡng và củng cố hệ tư tưởng chính trị. Sự lan tỏa giá trị xã hội của hình tượng Đức Thánh Tản vừa mang tính tự thân, vừa chịu tác động trực tiếp từ yếu tố chính trị thông qua việc lựa chọn những giá trị tương thích với lợi ích quốc gia để phổ biến vào đời sống cộng đồng. Từ đó, Nhà nước chính thống hóa vai trò tổ chức, mở rộng các mối quan hệ xã hội, thực hiện quá trình "sáng tạo truyền thống" và thiết lập sự phân công xã hội.
- Giả thuyết thứ hai: Vốn xã hội của cộng đồng được hình thành, biểu hiện và mang lại lợi ích trên ba phương diện: kinh tế, văn hóa và biểu tượng. Trên phương diện kinh tế, loại hình kinh tế nông nghiệp xứ Đoài hình thành tín ngưỡng, lễ hội và quá trình địa danh hóa Đức Thánh Tản tạo tiền đề địa danh hóa sản phẩm đặc trưng. Trên phương diện văn hóa, quá trình thiêng hóa nhân vật phụng thờ, duy trì niềm tin, "sáng tạo truyền thống" cùng tâm lý cộng đồng phản ánh rõ nét vốn xã hội. Trên phương diện biểu tượng, hình tượng Đức Thánh Tản và các nghi thức biểu đạt giúp quy định hành vi và cố kết cộng đồng.
- Giả thuyết thứ ba: Mối quan hệ giữa Nhà nước, cộng đồng và vốn xã hội được biểu hiện qua các định chế xã hội, phân công xã hội, "sáng tạo truyền thống", cái thiêng và quá trình biểu tượng hóa. Trong bối cảnh hiện nay, vốn xã hội đang trải qua các xu hướng biến đổi: quyền lực hóa, kinh tế hóa và văn hóa hóa vốn xã hội.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Niềm tin và chuẩn mực xã hội, quan hệ xã hội và lợi ích xã hội của Nhà nước và cộng đồng trong lễ hội Đền Và. Khảo sát trọng tâm hướng vào lễ hội Đền Và diễn ra định kỳ 1 năm 2 lần (hội chính vào tháng Giêng và hội lệ vào tháng Chín).
- Phạm vi không gian: Di tích Đền Và tại thôn Vân Gia, phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội; đồng thời mở rộng địa bàn điền dã khảo sát sang đền Ngự Dội (tỉnh Vĩnh Phúc) để đối chiếu mối liên kết cộng đồng liên làng qua sông Hồng.
- Phạm vi thời gian: Luận án tập trung khảo sát quá trình tạo lập và thụ hưởng lợi ích từ vốn xã hội trong khoảng 20 năm trở lại đây, mốc thời gian tính từ năm 1999 khi lễ hội Đền Và được khôi phục và nâng lên quy mô lễ hội cấp vùng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã điểm lại hệ thống tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba nhóm nội dung chính:
Các nghiên cứu về lý thuyết vốn xã hội trên thế giới và ở Việt Nam
Trên thế giới, khái niệm vốn xã hội khởi nguồn từ Lyda Judson Hanifan (1916), được Jane Jacobs đề cập lại vào thập niên 1960 và được Pierre Bourdieu phát triển từ đầu những năm 1970. Pierre Bourdieu (1986) xem vốn xã hội là một mạng lưới các mối quan hệ bền vững giúp thành viên tiếp cận trực tiếp các nguồn lực kinh tế hoặc gia tăng vốn văn hóa. James Coleman (1988) nhấn mạnh yếu tố con người, phân biệt vốn xã hội trong gia đình và vốn xã hội trong cộng đồng, chỉ ra tác động của chúng đối với việc tích lũy vốn con người cho thế hệ sau. Robert Putnam (1995) trong công trình "Bowling Alone" trên The Journal of Democracy phân tích sự suy giảm vốn xã hội ở Mỹ gắn với sự suy yếu của xã hội dân sự và lối sống cá nhân hóa. Francis Fukuyama (1995, 2001) tiếp cận vốn xã hội dưới góc độ các chuẩn mực không chính thức thúc đẩy sự hợp tác và giảm thiểu chi phí giao dịch kinh tế. Các tác giả khác như Grootaert (1999) nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn xã hội và mức độ nghèo đói tại Indonesia; Guiso và cộng sự (2004) xem xét vai trò của vốn xã hội trong phát triển tài chính; Woolcock và Narayan (2000) tổng hợp lý thuyết vốn xã hội với chính sách phát triển. Mark Granovetter (1973) đóng góp lý thuyết về "sức mạnh của các mối quan hệ yếu" (the Strength of Weak ties).
Tại Việt Nam, các công trình được phân chia thành hai khuynh hướng:
- Hướng nghiên cứu lý thuyết: Trần Hữu Quang (2000, 2006, 2008) tiếp cận vốn xã hội từ khía cạnh pháp luật, đạo đức, sự tin cậy và so sánh cấu trúc xã hội cổ truyền (phân mảnh, cục bộ) với xã hội hiện đại (đa nhóm, pháp lý); Trần Hữu Dũng (2008) nhìn nhận vốn xã hội như tài sản và yếu tố bôi trơn làm giảm chi phí giao dịch kinh tế.
- Hướng nghiên cứu thực nghiệm: Nguyễn Duy Thắng (2009) nghiên cứu chiến lược sinh kế nông dân ven đô Hà Nội qua vốn xã hội về đất đai và việc làm; Fleur Thomése và Nguyễn Tuấn Anh (2008) nghiên cứu hiện tượng dồn điền đổi thửa dựa vào quan hệ họ hàng tại Bắc Trung Bộ; Nguyễn Tuấn Anh (2010) khảo sát biến đổi vốn xã hội trong nông thôn; Lê Ngọc Hùng (2008) xây dựng mô hình mạng lưới xã hội; Nguyễn Quý Thanh (2006, 2009) nghiên cứu vốn xã hội trong gia đình doanh nhân Việt - Hàn và xuất bản cuốn "Phép đạc tam giác về vốn xã hội của người Việt Nam: mạng lưới quan hệ - lòng tin - sự tham gia"; Lương Văn Hy (2010) phân tích dòng quà tặng ở Hoài Thị và Khánh Hậu; Nguyễn Anh Tuấn (2011) khảo sát "sổ nợ đời"; Mai Thị Hạnh (2014) bảo vệ luận án "Bản hội đạo Mẫu: tạo lập vốn xã hội trong bối cảnh chuyển đổi", làm rõ sự chuyển hóa giữa vốn xã hội, vốn văn hóa và vốn kinh tế; Lê Minh Tiến (2011) tổng quan phương pháp phân tích mạng lưới xã hội và các cấp độ đo lường.
Các nghiên cứu về vai trò, quan hệ giữa Nhà nước và cộng đồng trong lễ hội
Nghiên cứu về sự can thiệp của Nhà nước và biến đổi lễ hội được ghi nhận qua các công trình của Ngô Đức Thịnh (hiện tượng tín ngưỡng Bà Chúa Kho phản ánh chủ nghĩa yêu nước được tâm linh hóa trong bối cảnh Đổi mới); Choi Horim (2004) bàn về "chính trị văn hóa của lễ hội làng ở Hà Nội", chỉ ra việc chuẩn hóa nghi lễ và sự cạnh tranh vị thế giữa các nhóm dân cư; Daniel Fabre (2013) phân tích hệ quả của quá trình quy đổi di sản đối với việc siết chặt quản lý; Lê Thị Minh Lý, Phan Phương Anh nghiên cứu sự suy giảm tính thiêng và hiện tượng hành chính hóa tại hội Gióng và hội đền Hùng; Bùi Hoài Sơn (2013) làm rõ chức năng kinh tế mới của di sản và lễ hội (như trường hợp chọi trâu Đồ Sơn năm 1990); Từ Thị Loan (2012) đề cao vai trò tự quản của cộng đồng; nhóm Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Hiền, Đào Thế Đức, Hoàng Cầm (2012) chỉ ra việc chi trả thù lao cho người tham gia hội Gióng làm thay đổi nhận thức trách nhiệm của cư dân bản địa; Nguyễn Thị Nhung phân tích sự "ngoài lề hóa" cộng đồng tại chùa Hương; Trần Thị Lan (2017) khảo sát quá trình di sản hóa đền Hát Môn và tương tác giữa giới chuyên gia, chính quyền với người dân.
Các nghiên cứu về lễ hội Đền Và và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Tản
Nguyễn Xuân Diện (2000, 2011) phân tích hệ thống văn bản thần tích, truyền thuyết, chỉ ra ba lớp văn hóa kết tinh trong hình tượng Tản Viên (Việt - Mường, Đạo giáo, Nho giáo) và yếu tố hỗn dung văn hóa Việt - Mường - Dao tại vùng núi Ba Vì với sự xuất hiện của thần Thái Bạch Kim Tinh; Lê Thị Hiền khảo sát nguồn gốc thờ phụng Sơn Tinh ở Hà Tây; Trần Quốc Vượng và Lâm Bá Nam xác định không gian văn hóa Việt - Mường cổ quanh chân núi Ba Vì; Đinh Gia Khánh và Ngô Đức Thịnh phân tích nguồn gốc nhiên thần (thần núi), quá trình lịch sử hóa, nhân thần hóa thành vị "Bách nghệ tổ sư" và Thành hoàng làng bảo trợ mùa màng, trị thủy.
Khoảng trống luận án giải quyết
Kế thừa các luận điểm về lý thuyết mạng lưới và sự chuyển hóa vốn của Pierre Bourdieu, chuẩn mực niềm tin của Francis Fukuyama và phân tích thể chế của Trần Hữu Quang, tác giả định vị luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống về lễ hội Đền Và dưới lăng kính vốn xã hội. Luận án giải quyết khoảng trống về việc thiếu vắng các công trình phân tích cơ chế tạo lập, vận hành và chuyển hóa qua lại giữa vốn xã hội, vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn biểu tượng giữa hai chủ thể Nhà nước và cộng đồng trong không gian lễ hội truyền thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và phân tích
Luận án dựa trên các trụ cột lý luận về vốn xã hội:
- Cơ chế hình thành và chuyển hóa các loại vốn (tiếp cận Pierre Bourdieu): Vốn xã hội là sản phẩm của mạng lưới quan hệ được thể chế hóa. Các loại vốn có mối quan hệ tương hỗ và chuyển dịch qua lại: muốn có vốn văn hóa cần đầu tư vốn xã hội và vốn kinh tế; muốn có vốn xã hội cần đầu tư vốn kinh tế và vốn văn hóa; muốn tích lũy vốn kinh tế cần huy động vốn văn hóa và vốn xã hội.
- Các thành tố cấu thành vốn xã hội (tổng hợp từ Bourdieu, Coleman, Fukuyama): Bao gồm hệ thống mạng lưới xã hội, niềm tin của con người, khả năng kết nối thực hiện công việc và hệ thống chuẩn mực xã hội.
- Môi trường tạo lập vốn xã hội (tiếp cận Trần Hữu Quang): Phân biệt giữa bối cảnh xã hội cổ truyền (cấu trúc phân mảnh, khép kín, quan hệ trực tiếp "mặt đối mặt", dựa trên phong tục và trật tự thứ bậc) và bối cảnh xã hội hiện đại (cấu trúc đa tầng, liên kết mở rộng, vận hành theo luật pháp, lý tính và phân công chức năng).
- Cấp độ đo lường vốn xã hội (tiếp cận Lê Minh Tiến): Đo lường ở cấp vi mô (động cơ hợp tác, hành động tập thể), cấp trung mô (tính công cụ của mạng lưới xã hội) và cấp vĩ mô (chuẩn mực văn hóa và mức độ gắn kết xã hội).
| Thành tố vốn |
Biểu hiện trong lễ hội Đền Và |
Lợi ích thu nhận |
| Vốn văn hóa |
Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Tản; hệ tư tưởng chính trị; các nghi thức cổ truyền |
Củng cố tính chính danh, bảo tồn tri thức dân gian và bản sắc địa phương |
| Vốn biểu tượng |
Biểu tượng Đệ nhất phúc thần, danh dự, uy tín xã hội, sự công nhận vị thế |
Cố kết cộng đồng, gia tăng uy tín cá nhân và quyền lực quản lý của cơ quan công quyền |
| Vốn kinh tế |
Nguồn thu công đức, tài trợ, dịch vụ buôn bán, nông sản và ẩm thực địa phương |
Tái đầu tư tu bổ di tích, tăng thu nhập hộ gia đình, thúc đẩy kinh tế vùng |
| Vốn xã hội |
Mạng lưới quan hệ liên làng, liên kết giữa Nhà nước và người dân, chuẩn mực tương hỗ |
Giảm chi phí phối hợp, duy trì trật tự an ninh, huy động nguồn lực tập thể |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận liên ngành Văn hóa học kết hợp Xã hội học và Nhân học:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Tập hợp, xử lý các nguồn tư liệu lịch sử, thần tích, ngọc phả, văn bia tại Đền Và và các công trình sách báo, tạp chí chuyên ngành đã xuất bản.
- Phương pháp quan sát tham dự: Nghiên cứu sinh trực tiếp tham dự và quan sát các kỳ lễ hội từ năm 2017 đến năm 2019 (bao gồm cả hội chính tháng Giêng và hội lệ tháng Chín tại Đền Và, cùng các hoạt động liên quan tại đền Ngự Dội, Vĩnh Phúc). Quan sát tập trung vào các hành vi thực hành nghi lễ, quá trình rước kiệu, chuẩn bị bữa cỗ hưởng lộc Thánh và công tác thu dọn sau lễ hội.
- Phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm: Thu thập thông tin từ hai nhóm đối tượng:
- Nhóm cán bộ quản lý: Đại diện chính quyền thị xã Sơn Tây, phường Trung Hưng, tổ dân phố; cán bộ Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ; cán bộ quản lý văn hóa các cấp.
- Nhóm cộng đồng: Thành viên Ban quản lý di tích, người trông coi đền, người tham gia đội tế, đội rước kiệu, người dân tham gia nghênh Thánh, chui kiệu. Nghiên cứu sinh lưu trú tại nhà hai người dân ở làng Phù Sa và làng Vân Gia để thực hiện phỏng vấn nhóm thanh niên rước kiệu Văn và kiệu Lồng Mũ, nhóm phụ nữ rước kiệu Quả, nhóm phục vụ ăn uống của làng Phù Sa và Duy Bình.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về lễ hội Đền Và
Chương này trình bày cơ sở lý luận về vốn xã hội, khung phân tích và dữ liệu lịch sử - văn hóa về di tích và nhân vật phụng thờ.
Đền Và (còn gọi là Đông Cung) tọa lạc tại thôn Vân Gia, xã Trung Hưng, huyện Tùng Thiện, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội). Đền nằm trong hệ thống Tứ cung thờ Đức Thánh Tản xứ Đoài cùng với Bắc Cung (Yên Lạc, Vĩnh Phúc), Nam Cung và Tây Cung (Ba Vì, Hà Nội). Đền Và ngự trên đồi Và có diện tích khoảng 17.500 m² rợp bóng lim cổ thụ, địa thế phong thủy mang hình con rùa đang bơi về phía mặt trời mọc. Khuôn viên đền rộng khoảng 2.000 m², bao bọc bởi tường đá ong cao 2,15 m, kiến trúc xây dựng theo kiểu "nội công ngoại quốc".
Về lịch sử biến đổi và trùng tu, sự mở rộng quy mô Đền Và gắn với sự phát triển thương nghiệp thời Mạc, Lê Trung Hưng và quá trình đô thị hóa thời Nguyễn (năm 1822 xây thành Sơn Tây, năm 1831 chuyển tỉnh lỵ về gần Đền Và). Đợt trùng tu quy mô lớn diễn ra vào năm 1883-1884 do các quan đầu tỉnh đứng ra quyên góp. Văn bia Vân Gia Đông thần cung ghi nhận số lượng tài lực công đức cụ thể gồm: 2.566 quan tiền, 4 đồng tiền vàng, 2 lượng vàng, 52 cây gỗ lớn và 3.000 phiến đá ong (trong đó quan đầu tỉnh đóng góp 500 quan, một bá hộ tên Lý Mậu Ký cung tiến tiền của và vật lực lớn).
Về hình tượng Đức Thánh Tản, luận án phân tích 3 lớp văn hóa tích hợp:
- Lớp văn hóa tín ngưỡng Việt - Mường: Phản ánh tục thờ Thần Núi (nhiên thần), gắn liền với không gian cư trú cổ quanh núi Ba Vì; biểu thị triết lý Âm - Dương, Đất - Nước và ký ức lịch sử về công cuộc trị thủy chống lũ lụt qua truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh.
- Lớp văn hóa Đạo giáo: Thể hiện qua hình mẫu vị thần tiên bất tử, đắc đạo thụ phép, khả năng biến hóa kỳ ảo và sự giao lưu văn hóa Việt - Mường - Dao tại đền Trung với vị thần Thái Bạch Kim Tinh.
- Lớp văn hóa Nho giáo: Lịch sử hóa và chuẩn mực hóa hình tượng Tản Viên thành biểu tượng trung hiếu, vị phúc thần phò trợ triều đình, nhường ngôi vì đại nghĩa dân tộc.
Bên cạnh đó, Ngài còn được tôn vinh là "Bách nghệ tổ sư" (dạy dân nghề nông, rèn kiếm sắt cưa răng làm liềm cắt cỏ, làm quang sọt, đòn gánh, đánh cá trên sông Tích) và là vị Thành hoàng làng tối cao bảo trợ cho các làng xã quanh vùng Sơn Tây.
Chương 2: Vốn xã hội dưới góc độ quản lý Nhà nước trong lễ hội Đền Và
Chương 2 luận giải cách thức bộ máy Nhà nước tham gia tạo lập, định hình và thụ hưởng nguồn vốn xã hội thông qua các cơ chế quản lý:
- Quản lý tín ngưỡng và củng cố hệ tư tưởng chính trị: Nhà nước thực hiện việc chọn lọc các giá trị lịch sử của hình tượng Đức Thánh Tản để lồng ghép vào hệ tư tưởng chính thống, nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết toàn dân và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.
- Chính thống hóa vai trò tổ chức và mở rộng quan hệ xã hội: Thông qua việc ban hành quy chế, thành lập Ban tổ chức lễ hội và điều phối các phòng ban (Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, công an), chính quyền các cấp xác lập tính hợp pháp, nâng cao uy tín lãnh đạo, đồng thời mở rộng mạng lưới giao lưu giữa chính quyền địa phương với các cơ quan trung ương và cộng đồng cư dân.
- "Sáng tạo truyền thống" và phân công xã hội: Cơ quan quản lý can thiệp vào kịch bản lễ hội, quy định lại thứ tự nghi lễ, quy chuẩn hóa các hình thức rước kiệu, phân bổ chỉ tiêu nhiệm vụ cho từng thôn/tổ dân phố (thể hiện qua bảng phân công nhiệm vụ cụ thể vào mùa lễ hội tháng Giêng năm 2017), từ đó tạo nên trật tự phân công xã hội hành chính hóa lồng ghép trong nghi thức cổ truyền.
Chương 3: Vốn xã hội dưới góc độ cộng đồng trong lễ hội Đền Và
Chương 3 khảo sát thực tế đời sống cư dân địa phương để nhận diện vốn xã hội trên ba phương diện:
- Phương diện kinh tế: Loại hình sản xuất nông nghiệp và thương nghiệp địa phương tạo nên sự liên kết kinh tế giữa các hộ dân. Quá trình địa danh hóa Đức Thánh Tản gắn liền với việc quảng bá các sản vật bản địa, thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ phục vụ du khách trong mùa lễ hội, hình thành mạng lưới tương trợ tín dụng và kinh doanh phi chính thức.
- Phương diện văn hóa: Ý thức bảo lưu niềm tin tín ngưỡng vào Đệ nhất phúc thần duy trì sự gắn kết dòng họ và làng xã. Cộng đồng cùng nhau thực hiện các tập tục trao truyền, chuẩn bị lễ vật (bảng so sánh sự khác biệt giữa gian thờ Mẫu và gian thờ Đức Thánh Tản, lễ vật ban thờ cô Chín và ban thờ Thánh Tản). Quá trình "sáng tạo truyền thống" từ phía người dân diễn ra thông qua việc điều chỉnh các sinh hoạt hội hè để phù hợp với điều kiện sinh hoạt hiện đại nhưng vẫn giữ gìn bản sắc riêng của "người làng ta".
- Phương diện biểu tượng: Biểu tượng uy linh của Đức Thánh Tản cùng các nghi thức nghênh Thánh, rước kiệu liên làng qua sông Hồng sang đền Ngự Dội và tục chui kiệu tạo ra môi trường cộng cảm tâm linh sâu sắc. Các biểu tượng này xác lập chuẩn mực ứng xử, củng cố danh dự, uy tín của các cá nhân tham gia đoàn tế lễ, đồng thời thắt chặt khối đại đoàn kết giữa các làng Vân Gia, Phù Sa, Mai Trai, Nghĩa Phủ và Duy Bình.
Chương 4: Một số vấn đề bàn luận về vốn xã hội trong lễ hội Đền Và
Chương 4 đúc kết các vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn từ trường hợp nghiên cứu:
- Tam giác quan hệ Nhà nước, cộng đồng và vốn xã hội: Phân tích mối quan hệ tương tác hai chiều. Nhà nước cung cấp khung pháp lý, định chế quản lý và nguồn lực hạ tầng; cộng đồng cung cấp niềm tin tâm linh, thực hành nghi lễ và nhân lực trực tiếp. Sự dung hòa hoặc mâu thuẫn giữa hai chủ thể này trực tiếp định hình dung lượng và chất lượng của vốn xã hội.
- Những xu hướng biến đổi của vốn xã hội trong lễ hội Đền Và hiện nay:
- Quyền lực hóa vốn xã hội: Xuất hiện sự cạnh tranh vị thế, khẳng định uy tín chính trị và tiếng nói quản lý thông qua việc nắm giữ các vai trò chủ chốt trong Ban tổ chức hoặc Ban quản lý di tích.
- Kinh tế hóa vốn xã hội: Các mối quan hệ xã hội được tận dụng triệt để nhằm phục vụ mục tiêu khai thác lợi ích kinh tế, phân bổ nguồn thu từ tiền công đức và dịch vụ thương mại du lịch tâm linh.
- Văn hóa hóa vốn xã hội: Việc gìn giữ, tái tạo các giá trị văn hóa biểu tượng trở thành công cụ củng cố căn tính địa phương và quảng bá hình ảnh xứ Đoài trong không gian văn hóa Thủ đô mở rộng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và lý luận
- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về lễ hội truyền thống dưới lăng kính lý thuyết vốn xã hội tại Việt Nam, vượt qua lối tiếp cận truyền thống vốn chỉ thuần túy mô tả cấu trúc không gian, thời gian và diễn trình lễ hội.
- Luận án làm rõ cơ chế chuyển hóa tương hỗ giữa bốn loại vốn: vốn xã hội, vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn biểu tượng trong không gian tín ngưỡng dân gian; chứng minh rằng việc tham gia lễ hội là quá trình đầu tư và tái sản xuất các loại vốn của các chủ thể.
- Bổ sung một cách tiếp cận văn hóa học đối với lý thuyết vốn xã hội, đặt vốn xã hội vào sự tương tác giữa hai bối cảnh: xã hội nông nghiệp cổ truyền và xã hội chuyển đổi hiện đại.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp
- Cung cấp hệ thống dữ liệu điền dã dân tộc học cập nhật (giai đoạn 2017–2019) về thực trạng tổ chức lễ hội Đền Và sau hơn hai thập kỷ phục dựng thành lễ hội cấp vùng (từ năm 1999).
- Đưa ra các luận cứ khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý văn hóa điều chỉnh phương thức quản lý: tránh khuynh hướng hành chính hóa quá mức làm suy giảm tính chủ động của người dân, đồng thời đề xuất mô hình quản lý hài hòa giữa định chế Nhà nước và quyền tự quản của cộng đồng địa phương trong việc quản lý tiền công đức và tổ chức phần lễ - phần hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài tiến sĩ, luận án mới tập trung khảo sát trường hợp điển cứu tại lễ hội Đền Và (và liên hệ với đền Ngự Dội) mà chưa có điều kiện so sánh, đối chiếu đồng bộ với các lễ hội khác thuộc hệ thống Tứ cung thờ Tản Viên (Bắc Cung, Nam Cung, Tây Cung) hoặc các lễ hội thờ nhiên thần khác ở khu vực Bắc Bộ. Nguồn tư liệu văn bản lịch sử trước năm 1999 còn tản mạn nên việc tái hiện biến đổi vốn xã hội ở các giai đoạn lịch sử xa hơn gặp những giới hạn nhất định.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu mạng lưới vốn xã hội giữa các cộng đồng phụng thờ Đức Thánh Tản tại các địa bàn khác nhau (Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc); khảo sát sâu hơn tác động của chuyển đổi số và truyền thông đại chúng đối với sự biến đổi vốn xã hội trong các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian đương đại.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu học thuật: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và các nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học, Xã hội học văn hóa, Quản lý văn hóa và Tín ngưỡng dân gian. Đặc biệt, chương tổng quan tài liệu và khung lý thuyết cung cấp tài liệu tham khảo về việc vận dụng lý thuyết vốn xã hội vào các hiện tượng văn hóa phi vật thể.
- Đối với công tác quản lý và thực thi chính sách: Luận án có giá trị tham khảo thực tiễn đối với Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội, Phòng Văn hóa - Thông tin thị xã Sơn Tây, Ủy ban nhân dân phường Trung Hưng và Ban quản lý di tích Đền Và trong việc xây dựng phương án quản lý lễ hội văn minh, phân cấp quản lý di tích, phân bổ nguồn thu công đức và giải quyết mối quan hệ hài hòa giữa cơ quan công quyền với cộng đồng cư dân bản địa.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án tiếp cận khái niệm vốn xã hội dựa trên khung lý thuyết của những tác giả nào?
Tác giả kế thừa lý thuyết mạng lưới và sự chuyển hóa các dạng vốn (vốn kinh tế, vốn văn hóa, vốn biểu tượng) của Pierre Bourdieu; quan điểm về chuẩn mực xã hội và lòng tin của Francis Fukuyama; sự phân định định chế xã hội cổ truyền và hiện đại của Trần Hữu Quang; cùng ba cấp độ đo lường vốn xã hội (vi mô, trung mô, vĩ mô) do Lê Minh Tiến tổng hợp.
2. Sự tham gia của Nhà nước trong lễ hội Đền Và đem lại những biểu hiện và lợi ích gì về vốn xã hội?
Nhà nước tham gia thông qua việc quản lý tín ngưỡng, chuẩn hóa kịch bản nghi lễ, củng cố hệ tư tưởng chính trị và phân công nhiệm vụ cho các ban ngành đoàn thể. Lợi ích thu nhận được là sự chính thống hóa vai trò tổ chức của chính quyền, tăng cường quyền lực quản lý hành chính, mở rộng mạng lưới liên kết chính trị - xã hội và bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn.
3. Vốn xã hội của cộng đồng trong lễ hội Đền Và được phân tích trên những phương diện nào?
Vốn xã hội của cộng đồng được xem xét trên ba phương diện chính: phương diện kinh tế (tương trợ sinh kế, tiêu thụ sản vật, kinh doanh mùa lễ hội); phương diện văn hóa (trao truyền niềm tin tâm linh, củng cố quan hệ gia đình, dòng họ, làng xóm); và phương diện biểu tượng (sử dụng hình tượng thiêng Đức Thánh Tản và nghi thức rước kiệu, chui kiệu để cố kết cộng đồng và xác lập danh dự cá nhân).
4. Ba lớp văn hóa tích hợp trong hình tượng Đức Thánh Tản được tác giả xác định là gì?
Luận án chỉ ra ba lớp văn hóa tích hợp gồm: lớp văn hóa tín ngưỡng Việt - Mường cổ (tục thờ thần núi, nhiên thần trị thủy); lớp văn hóa Đạo giáo (hình tượng vị thần tiên bất tử, phép thuật nhiệm màu, hội nhập thần Thái Bạch Kim Tinh của người Dao); và lớp văn hóa Nho giáo (quá trình lịch sử hóa, Nho giáo hóa thành hình mẫu phúc thần trung hiếu phò tá non sông).
5. Những số liệu cụ thể nào được ghi nhận về quy mô kiến trúc và lần trùng tu lớn của Đền Và trong lịch sử?
Đền Và nằm trên khu đồi rộng khoảng 17.500 m², khuôn viên đền rộng khoảng 2.000 m², tường bao bằng đá ong cao 2,15 m. Văn bia Vân Gia Đông thần cung ghi lại đợt tu bổ lớn năm 1883-1884 với sự đóng góp tài lực gồm 2.566 quan tiền, 4 đồng tiền vàng, 2 lượng vàng, 52 cây gỗ lớn và 3.000 phiến đá ong (trong đó quan đầu tỉnh công đức 500 quan).
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thùy Linh đã giải quyết vấn đề khoa học về cơ sở hình thành, phương thức biểu hiện và lợi ích của vốn xã hội trong lễ hội Đền Và thông qua cách tiếp cận liên ngành Văn hóa học kết hợp Xã hội học và Nhân học. Bằng việc phân tích chi tiết sự tham gia của hai chủ thể Nhà nước và cộng đồng, công trình làm sáng tỏ sự tương tác và chuyển hóa lẫn nhau giữa vốn xã hội, vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn biểu tượng trong không gian thực hành tín ngưỡng dân gian. Đây là tài liệu khoa học phản ánh bức tranh sinh hoạt lễ hội truyền thống ở xứ Đoài trong bối cảnh đương đại, cung cấp cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về vốn xã hội trong văn hóa cũng như công tác quản lý di sản tại Việt Nam.