Tổng quan luận án

Phì đại tuyến vú là tình trạng bệnh lý đặc trưng bởi sự phát triển quá mức của nhu mô tuyến vú, mô liên kết và mô mỡ, thường đi kèm với tình trạng sa trễ của phức hợp quầng núm vú. Tình trạng này không chỉ làm thay đổi hình thể giải phẫu mà còn gây ra các triệu chứng cơ năng như đau cổ vai gáy, gù vẹo cột sống, viêm loét nếp lằn dưới vú và tác động tiêu cực đến tâm lý người bệnh. Phẫu thuật là phương pháp điều trị triệt để duy nhất đối với bệnh lý này.

Tuy nhiên, việc can thiệp phẫu thuật cho nhóm bệnh nhân phì đại vú mức độ rất nhiều (thể tích từ 1000 đến 1500 ml) và mức độ khổng lồ (thể tích trên 1500 ml) kèm sa trễ nặng là một thách thức lớn trong ngoại khoa tạo hình. Kỹ thuật ghép tự do phức hợp quầng núm vú kinh điển của Thorek (1922) làm mất hoàn toàn chức năng tiết sữa, mất cảm giác quầng núm vú và có nguy cơ thiểu dưỡng mảng ghép. Các kỹ thuật sử dụng vạt ngẫu nhiên mang phức hợp quầng núm vú theo nguyên tắc kinh điển bị khống chế bởi tỷ lệ chiều dài trên chiều rộng vạt không vượt quá 2/1. Khi khoảng cách di chuyển từ vị trí cũ lên vị trí mới quá lớn, vạt ngẫu nhiên đối mặt với nguy cơ thiếu máu nuôi dưỡng cao, tỷ lệ hoại tử phức hợp quầng núm vú trong y văn dao động từ 6% đến 10,5%.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: trong y văn thế giới và Việt Nam, chưa có công trình nghiên cứu hệ thống nào kết hợp chẩn đoán hình ảnh chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MSCT) dựng hình ba chiều mạch máu và siêu âm Doppler mạch cầm tay để khảo sát giải phẫu cuống mạch, từ đó ứng dụng thiết kế vạt trục mạch mang phức hợp quầng núm vú trong phẫu thuật thu gọn vú phì đại mức độ rất nhiều và khổng lồ.

Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả một số đặc điểm cuống mạch ngực ngoài và vú trong trên bệnh nhân phì đại vú mức độ rất nhiều và khổng lồ.
  2. Đánh giá kết quả phẫu thuật thu gọn vú phì đại rất nhiều và khổng lồ sử dụng vạt trục mạch mang phức hợp quầng núm vú.

Nghiên cứu được tiến hành trên 30 bệnh nhân nữ được chẩn đoán phì đại vú mức độ rất nhiều và khổng lồ, có khoảng cách từ đầu trong xương đòn tới núm vú từ 25 cm trở lên, được phẫu thuật tại Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ thuộc Bệnh viện Bạch Mai trong khoảng thời gian từ tháng 01/2021 đến tháng 10/2024.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu giải phẫu, chẩn đoán hình ảnh và các kỹ thuật phẫu thuật thu gọn tuyến vú:

Về nhân trắc và giải phẫu tuyến vú, tác giả điểm lại các chỉ số nhân trắc học của bầu vú lý tưởng với chiều cao 12–15 cm, chiều rộng 13–15 cm, khoảng cách từ núm vú đến đường giữa khoảng 9,5 cm, khoảng cách từ đầu trong xương đòn đến núm vú khoảng 17–18 cm, khoảng cách từ cực dưới quầng vú đến nếp lằn dưới vú khoảng 5 cm, và khoảng cách giữa hai núm vú từ 18–20 cm. Theo phân loại giải phẫu học của Lalardrie, phì đại tuyến vú được phân chia theo thể tích thành 4 mức độ: vừa phải (350–500 ml), nhiều (500–1000 ml), rất nhiều (1000–1500 ml) và khổng lồ (trên 1500 ml); sa trễ vú được phân thành độ 1 (núm vú hạ thấp 2–5 cm), độ 2 (hạ thấp 5–10 cm) và độ 3 (hạ thấp trên 10 cm).

Về giải phẫu nguồn cấp máu cho phức hợp quầng núm vú:

  • Nghiên cứu kinh điển của Carl Manchot chỉ ra tính biến thiên phong phú của hệ thống mạch máu vùng ngực giữa các cá thể và trên cùng một cá thể.
  • Nghiên cứu của O’Dey trên 7 tiêu bản xác tươi ghi nhận 6 nguồn động mạch cấp máu cho phức hợp quầng núm vú (động mạch vú trong, động mạch ngực ngoài, động mạch liên sườn, động mạch ngực cùng vai, động mạch ngực trên, động mạch ngực nông), trong đó 3 nguồn chính là động mạch ngực ngoài, động mạch vú trong và động mạch liên sườn.
  • Nghiên cứu của Nakajima H tiêm chất cản quang trên xác tươi khẳng định vai trò vượt trội của động mạch ngực ngoài và động mạch vú trong thông qua mạng lưới mạch dưới da và trong nhu mô.
  • Nghiên cứu của Van Deventer chỉ ra động mạch vú trong chiếm ưu thế cấp máu cho phức hợp quầng núm vú với 72,5% các nhánh xuất phát từ khoang liên sườn II–III; trong khi động mạch ngực ngoài tiếp cận từ góc trên ngoài với đường kính trung bình 1,5 ± 0,3 mm.

Về chẩn đoán hình ảnh mạch máu:

  • Karaca Basaran sử dụng siêu âm Doppler mạch phân chia đường đi mạch máu thành 3 vùng để đánh giá đường kính và độ sâu dưới da.
  • Hall-Findlay phân biệt hệ thống mạng mạch sâu (từ nhánh xuyên động mạch liên sườn) và mạng mạch nông (từ nhánh khoang liên sườn II–III của động mạch vú trong và nhánh động mạch ngực ngoài).
  • Zakhary và cộng sự khảo sát MSCT trên 12 bệnh nhân phì đại vú (21–50 tuổi), ghi nhận động mạch vú trong cấp máu cho phức hợp quầng núm vú chiếm 87,5%, động mạch ngực ngoài chiếm 16,6%, và 50% bệnh nhân có sự khác biệt về nguồn mạch chính giữa hai bên vú.
  • Hui Zheng khảo sát MSCT trên 23 bệnh nhân phì đại vú, phát hiện 61 nhánh mạch cấp máu, trong đó nhánh từ động mạch vú trong chiếm 50,8% và động mạch ngực ngoài chiếm 27,8%.
  • A. Usul và M. A. Korkmaz sử dụng siêu âm Doppler mạch cầm tay để dò đường đi động mạch trước mổ nhằm định hướng thiết kế vạt.

Về lịch sử các kỹ thuật phẫu thuật:

  • Thorek (1922) thực hiện cắt tuyến vú bán phần và ghép tự do phức hợp quầng núm vú.
  • Kraske (1923) và Wise (1956) đặt nền móng cho kỹ thuật cắt da và mô tuyến với đường rạch sẹo hình chữ T ngược (hình mỏ neo).
  • Schwartzmann (1930) đề xuất vạt mang phức hợp quầng núm vú ngẫu nhiên.
  • Các biến thể vạt ngẫu nhiên lần lượt được phát triển như: cuống kép ngang của Strombeck (1960), cuống kép dọc của McKissock, cuống trên của Pitanguy, cuống trên trong của Orlando và Guthrie (1975), cuống dưới và cuống trên ngoài.

Về ứng dụng vạt trục mạch vùng ngực:

  • Ricbourg (1976), Rii (1978), Claude Le Quang (1979), Koshima (1989), Kim (2014) và McCulley (2015) từng bước hoàn thiện kỹ thuật phẫu tích vạt mạch xuyên động mạch ngực ngoài trong tái tạo tổn khuyết mô mềm.
  • Patrick Gullane (2007) sử dụng vạt nhánh mạch xuyên động mạch vú trong tái tạo vùng cổ.
  • Trần Thiết Sơn và cộng sự (2023) ứng dụng vạt trục mạch động mạch vú trong đối bên mang phức hợp quầng núm vú để tái tạo thành ngực sau phẫu thuật ung thư và xạ trị.
  • Tại Việt Nam, Trần Thiết Sơn là người đầu tiên từ năm 2007 và 2014 áp dụng nguyên lý vạt trục mạch mang phức hợp quầng núm vú dựa trên siêu âm Doppler cầm tay trong thu gọn vú phì đại, tiếp nối bởi các nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Cường (2020) và Trương Thế Duy (2021).

Vị trí của luận án: Luận án là công trình nghiên cứu ứng dụng đồng thời chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MSCT) dựng hình 3D kết hợp siêu âm Doppler mạch cầm tay để xây dựng bản đồ mạch máu cá thể hóa, làm căn cứ thiết kế vạt trục mạch mang phức hợp quầng núm vú với sẹo chữ T ngược cho nhóm phì đại mức độ rất nhiều và khổng lồ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết giải phẫu mạch máu vùng tuyến vú, trong đó phức hợp quầng núm vú được cấp máu chủ yếu từ các nhánh xuyên nông của động mạch vú trong (tách từ các khoang liên sườn II, III, IV) và động mạch ngực ngoài. Khác với vạt ngẫu nhiên phụ thuộc vào mạng mạch dưới da không định danh và bị hạn chế bởi tỷ lệ chiều dài/chiều rộng không quá 2/1, vạt trục mạch (axial pattern flap) được thiết kế chứa một trục mạch nuôi xác định chạy dọc chiều dài của vạt. Khi có trục mạch nuôi bảo đảm, tỷ lệ chiều dài/chiều rộng của vạt có thể vượt quá 2/1, thậm chí đạt trên 3/1 mà vẫn duy trì áp lực tưới máu an toàn.

Nghiên cứu áp dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang can thiệp lâm sàng không đối chứng. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm toàn bộ 30 bệnh nhân nữ đáp ứng các tiêu chuẩn lựa chọn trong thời gian từ tháng 01/2021 đến tháng 10/2024 tại Bệnh viện Bạch Mai.

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:

  • Bệnh nhân nữ từ 14 tuổi trở lên.
  • Được chẩn đoán phì đại tuyến vú mức độ rất nhiều và khổng lồ (thể tích đo đạc từ 1000 ml trở lên) theo phân loại Lalardrie.
  • Kèm sa trễ vú với khoảng cách từ đầu trong xương đòn đến núm vú từ 25 cm trở lên.
  • Được thực hiện phẫu thuật thu gọn vú sử dụng vạt trục mạch mang phức hợp quầng núm vú.
  • Có sự tồn tại của mạch cấp máu cho phức hợp quầng núm vú được xác nhận qua chụp MSCT vú và kiểm chứng bằng siêu âm Doppler mạch cầm tay.
  • Hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin lâm sàng, cận lâm sàng, biên bản phẫu thuật và hình ảnh theo dõi trước, trong và sau mổ. Bệnh nhân và gia đình đồng thuận ký cam kết tham gia nghiên cứu.

Tiêu chuẩn loại trừ:

  • Bệnh nhân đang trong thời kỳ cho con bú hoặc đang trong giai đoạn cai sữa.
  • Bệnh nhân có tổn thương nghi ngờ hoặc mắc bệnh lý ác tính tại vùng tuyến vú.
  • Bệnh nhân mắc các bệnh lý nội khoa mạn tính chưa ổn định (rối loạn đông máu, đái tháo đường kiểm soát kém, rối loạn tâm thần) hoặc có chống chỉ định phẫu thuật.

Dữ liệu của Mục tiêu 1 được thu thập theo hệ thống các biến số mô tả giải phẫu và chẩn đoán hình ảnh:

STT Nhóm biến số Nội dung biến số cụ thể
1 Nguồn cấp máu chính Số lượng động mạch ngực ngoài và số lượng động mạch vú trong
2 Đặc điểm nhánh mạch từ ĐM ngực ngoài Số lượng nhánh mạch cấp máu cho phức hợp quầng núm vú; đường kính nhánh mạch (mm); đường đi của nhánh mạch; vị trí điểm tận vào phức hợp quầng núm vú (góc trên, trên ngoài, dưới ngoài); khoảng cách từ điểm tận đến núm vú (cm); độ sâu của nhánh mạch so với bề mặt da (mm)
3 Đặc điểm nhánh mạch từ ĐM vú trong Số lượng nhánh mạch cấp máu; vị trí khoang liên sườn xuất phát (KLS I đến V); đường kính nhánh mạch (mm); đường đi từ khoang liên sườn đến phức hợp quầng núm vú; vị trí điểm tận vào phức hợp quầng núm vú (góc trên, trên trong, dưới trong); khoảng cách từ điểm tận đến núm vú (cm); độ sâu so với bề mặt da (mm)
4 Mối tương quan cận lâm sàng Tỷ lệ phù hợp giữa định hướng đường đi mạch máu trên MSCT và định vị bằng siêu âm Doppler cầm tay
5 Lựa chọn dạng vạt trục mạch Loại cuống mạch thực tế được phẫu thuật viên lựa chọn (cuống trên trong, cuống trên ngoài, cuống trên, cuống dưới)

Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Số liệu được thu thập thống nhất theo mẫu bệnh án nghiên cứu, quản lý và phân tích bằng các phần mềm thống kê y học chuyên ngành. Các biến định tính được trình bày dưới dạng tần số và tỷ lệ phần trăm; các biến định lượng được trình bày dưới dạng giá trị trung bình và độ lệch chuẩn.

Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu: Đề tài tuân thủ các quy định về đạo đức nghiên cứu y sinh học, được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học thông qua và được sự chấp thuận của cơ sở thực hiện nghiên cứu. Mọi thông tin của người bệnh được bảo mật tuyệt đối.


Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề

Phần này trình bày tính cấp thiết của phẫu thuật thu gọn vú đối với các trường hợp phì đại mức độ rất nhiều và khổng lồ. Tác giả phân tích những hạn chế của phương pháp cắt rời và ghép tự do phức hợp quầng núm vú của Thorek cũng như nguy cơ hoại tử cao (6–10,5%) của các vạt ngẫu nhiên khi chiều dài cuống vạt lớn. Từ đó, tác giả chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu về việc ứng dụng kết hợp chụp MSCT và siêu âm Doppler cầm tay để thiết kế vạt trục mạch mang phức hợp quầng núm vú và xác lập 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận án.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 tổng hợp các cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm liên quan đến đề tài:

  • Phân tích đặc điểm nhân trắc học vú bình thường và giải phẫu mô học tuyến vú, bao gồm cấu trúc 10–20 thùy xếp hình nan hoa, hệ thống dây chằng treo Cooper, cấu tạo mô học của phức hợp quầng núm vú (hạt Montgomery, ống tuyến sữa, lớp cơ trơn dọc và ngang).
  • Hệ thống hóa các dữ liệu giải phẫu mạch máu từ các nghiên cứu trên xác của Carl Manchot, O’Dey, Nakajima H, Van Deventer, chứng minh động mạch vú trong và động mạch ngực ngoài là hai nguồn cấp máu cơ bản, hình thành đám rối mạch trên tuyến và trong da nuôi dưỡng phức hợp quầng núm vú.
  • Phân tích ưu điểm và nhược điểm của chẩn đoán hình ảnh: MSCT dựng hình mạch máu đa chiều cho phép khảo sát chính xác đường kính, vị trí xuất phát và đường đi không gian của cuống mạch; siêu âm Doppler mạch cầm tay hỗ trợ định vị trực tiếp đường đi của mạch máu trên bề mặt da người bệnh trước mổ với chi phí thấp.
  • Trình bày phân loại phì đại và sa trễ vú theo Lalardrie; phân tích các đường rạch da (đường rạch Thorek và đường rạch sẹo hình chữ T ngược theo Wise); đánh giá ưu nhược điểm của các dạng vạt ngẫu nhiên kinh điển (cuống kép dọc, cuống trên, cuống dưới, cuống kép ngang, cuống trên trong, cuống trên ngoài).
  • Tổng thuật lịch sử phát triển của các vạt mạch xuyên vùng ngực (vạt động mạch ngực ngoài và vạt động mạch vú trong) từ các công trình quốc tế của Ricbourg, Koshima, Kim, McCulley, Patrick Gullane đến các ứng dụng lâm sàng tại Việt Nam của Trần Thiết Sơn và cộng sự.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết phương pháp luận của công trình:

  • Đối tượng gồm 30 bệnh nhân nữ phì đại vú thể tích từ 1000 ml trở lên kèm sa trễ từ 25 cm trở lên tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 01/2021 đến tháng 10/2024. Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ được xác định rõ ràng.
  • Thiết kế nghiên cứu cắt ngang can thiệp lâm sàng không đối chứng.
  • Quy trình kỹ thuật thực hiện gồm:
    1. Khảo sát tiền phẫu bằng MSCT dựng hình mạch máu ba chiều để nhận diện vị trí xuất phát, đường kính nhánh mạch và điểm tận vào quầng núm vú.
    2. Dùng đầu dò siêu âm Doppler mạch cầm tay xác định và đánh dấu đường đi của trục mạch tương ứng trên bề mặt da.
    3. Đo vẽ nhân trắc vú và thiết kế đường mổ sẹo chữ T ngược phối hợp vạt trục mạch mang phức hợp quầng núm vú (lựa chọn cuống trên trong hoặc cuống trên ngoài tùy thuộc trục mạch ưu thế).
    4. Tiến hành phẫu thuật: rạch da theo thiết kế, lạng bỏ lớp thượng bì bảo vệ mạng mạch nuôi nông, bóc tách và tạo vạt trục mạch, cắt bỏ khối mô tuyến và mỡ phì đại thừa, xoay chuyển và đưa phức hợp quầng núm vú lên vị trí mới mà không làm xoắn vặn cuống mạch, đóng vết mổ chữ T ngược.
  • Thu thập số liệu theo danh mục 17 biến số của Mục tiêu 1 và các tiêu chuẩn đánh giá kết quả sớm, sau 3 tháng và sau 6 tháng đối với Mục tiêu 2; quy trình kiểm soát sai số và bảo đảm y đức.

Chương 3: Kết quả

Chương 3 trình bày các kết quả thu được trên 30 bệnh nhân nghiên cứu:

  • Đặc điểm chung: Phân bố bệnh nhân theo các nhóm tuổi; mối liên quan giữa phì đại vú với các thời kỳ dậy thì hoặc thai sản; lý do phẫu thuật của bệnh nhân (thẩm mỹ và cơ năng); phân loại chỉ số khối cơ thể (BMI) và mối tương quan giữa thừa cân với mức độ phì đại tuyến vú; phân bố thể tích phì đại vú (rất nhiều và khổng lồ); mối tương quan giữa mức độ phì đại và phân độ sa trễ vú; sự biến đổi kích thước, hình thái bề mặt quầng núm vú và khoảng cách từ bờ dưới quầng vú tới nếp lằn dưới vú.
  • Đặc điểm mạch máu trên chẩn đoán hình ảnh:
    • Trên phim MSCT dựng hình: Tỷ lệ xuất hiện và số lượng các nhánh mạch xuyên tách ra từ động mạch ngực ngoài và động mạch vú trong; vị trí khoang liên sườn xuất phát của các nhánh động mạch vú trong (ưu thế tại khoang liên sườn II–III và III–IV); thông số về đường kính gốc mạch máu, độ sâu đường đi dưới da và khoảng cách từ điểm tận của nhánh mạch tới núm vú; phân bố hướng đi của các nhánh mạch đi vào phức hợp quầng núm vú theo các góc phần tư.
    • Trên siêu âm Doppler cầm tay: Tỷ lệ dò tìm thấy tín hiệu dòng chảy của nhánh mạch trên da; mức độ phù hợp giữa kết quả định vị bằng siêu âm Doppler so với hình ảnh MSCT vú.
  • Đặc điểm kỹ thuật vạt trục mạch: Tỷ lệ lựa chọn các dạng cuống vạt (cuống trên trong chiếm tỷ lệ ưu thế, tiếp đến là cuống trên ngoài); kích thước chiều dài và chiều rộng của vạt khi căng nhẹ; tỷ lệ chiều dài/chiều rộng của vạt trục mạch (ghi nhận các trường hợp vạt có tỷ lệ vượt trên 3/1); khoảng cách di chuyển phức hợp quầng núm vú lên vị trí mới.
  • Đánh giá kết quả phẫu thuật:
    • Kết quả sớm: Tình trạng tưới máu và sức sống của phức hợp quầng núm vú (màu sắc, mao mạch hồi ứng), tỷ lệ biến chứng sớm (chảy máu, tụ dịch, hoại tử một phần hoặc toàn bộ).
    • Kết quả sau 3 tháng và 6 tháng: Tỷ lệ sống hoàn toàn của phức hợp quầng núm vú; sự phục hồi cảm giác nông của quầng núm vú; đánh giá hình dạng bầu vú, độ nhô cực trên và sự cân đối hai bên vú; tiến triển liền thương vết mổ và tình trạng sẹo mổ hình chữ T ngược; mức độ hài lòng của người bệnh về kết quả thẩm mỹ và cải thiện chức năng cơ năng.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 phân tích, so sánh các phát hiện của nghiên cứu với y văn trong và ngoài nước:

  • Phân tích dịch tễ học về độ tuổi, ảnh hưởng của nội tiết qua các thời kỳ dậy thì, mang thai và vai trò của chỉ số BMI đối với mức độ phì đại và sa trễ vú.
  • Bàn luận về giá trị của MSCT dựng hình mạch máu đa chiều trong việc đánh giá bản đồ mạch máu khách quan, phân tích tính ưu thế của nhánh mạch xuyên từ động mạch vú trong xuất phát từ khoang liên sườn II–III và III–IV so với động mạch ngực ngoài.
  • Bàn luận về tính chính xác và tính tiện dụng của siêu âm Doppler mạch cầm tay trong việc chuyển đổi dữ liệu hình ảnh thành mốc phẫu thuật thực địa trên da người bệnh.
  • Bàn luận về tính ưu việt của vạt trục mạch mang phức hợp quầng núm vú: Việc xác định rõ trục mạch cho phép thiết kế vạt có tỷ lệ chiều dài/chiều rộng lớn (trên 3/1) mà vẫn bảo đảm cấp máu an toàn, giải quyết được bài toán di chuyển phức hợp quầng núm vú trên quãng đường dài (trên 25 cm) mà vạt ngẫu nhiên không thể thực hiện an toàn.
  • Đánh giá so sánh kết quả bảo tồn phức hợp quầng núm vú, bảo tồn cảm giác thần kinh (nhánh thần kinh liên sườn đi kèm cuống mạch), tính thẩm mỹ của sẹo mổ chữ T ngược và tỷ lệ biến chứng so với kỹ thuật Thorek và các kỹ thuật vạt ngẫu nhiên trong y văn.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án mang lại những đóng góp cụ thể về mặt khoa học lý luận và thực tiễn ngoại khoa tạo hình:

Về mặt khoa học và lý luận:

  • Cung cấp dẫn liệu giải phẫu học lâm sàng có hệ thống về hệ thống mạch máu cấp máu cho phức hợp quầng núm vú trên nhóm bệnh nhân nữ Việt Nam bị phì đại tuyến vú mức độ rất nhiều và khổng lồ kèm sa trễ nặng.
  • Xác lập cơ sở khoa học cho việc kết hợp chẩn đoán hình ảnh hiện đại (MSCT dựng hình 3D) và thăm dò huyết động tại giường (siêu âm Doppler cầm tay) để xây dựng bản đồ mạch máu cá thể hóa, chuyển đổi từ tư duy thiết kế vạt ngẫu nhiên dựa trên ước lượng kinh nghiệm sang thiết kế vạt trục mạch có bằng chứng mạch máu rõ ràng.

Về mặt thực tiễn lâm sàng:

  • Chứng minh tính khả thi và an toàn của kỹ thuật thu gọn tuyến vú phì đại mức độ rất nhiều và khổng lồ sử dụng vạt trục mạch mang phức hợp quầng núm vú kết hợp đường rạch sẹo chữ T ngược.
  • Cho phép phẫu thuật viên thiết kế các vạt mang phức hợp quầng núm vú có tỷ lệ chiều dài/chiều rộng vượt quá giới hạn an toàn 2/1 của vạt ngẫu nhiên (đạt trên 3/1), bảo đảm di chuyển phức hợp quầng núm vú lên vị trí mới trên khoảng cách lớn (từ 25 cm trở lên).
  • Cung cấp một giải pháp thay thế kỹ thuật ghép tự do Thorek cho nhóm bệnh nhân phì đại khổng lồ, giúp bảo tồn được hình thái tự nhiên, cấu trúc mô học và cảm giác của phức hợp quầng núm vú.

Kiến nghị thực tiễn:

  • Khuyến nghị ứng dụng quy trình phối hợp MSCT dựng hình mạch máu đa chiều và siêu âm Doppler cầm tay trước phẫu thuật thu gọn vú đối với tất cả các trường hợp phì đại vú mức độ rất nhiều và khổng lồ có sa trễ nặng.
  • Ưu tiên lựa chọn vạt trục mạch cuống trên trong dựa trên nhánh mạch xuyên từ động mạch vú trong (khoang liên sườn II–III hoặc III–IV) do tính hằng định và tưới máu ưu thế được ghi nhận trên chẩn đoán hình ảnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Nghiên cứu được thực hiện tại một trung tâm đơn lẻ (Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ - Bệnh viện Bạch Mai) với cỡ mẫu 30 bệnh nhân.
  • Thiết kế nghiên cứu là cắt ngang can thiệp lâm sàng không có nhóm đối chứng ngẫu nhiên bắt cặp.
  • Kỹ thuật chụp MSCT dựng hình mạch máu đòi hỏi chi phí y tế và phơi nhiễm tia xạ nhất định, cần được chỉ định chọn lọc trên nhóm bệnh nhân phì đại nặng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng cỡ mẫu nghiên cứu và triển khai theo dõi đa trung tâm để khẳng định tính phổ quát của kỹ thuật.
  • Kéo dài thời gian theo dõi hậu phẫu trên 12 tháng để đánh giá toàn diện tiến triển của sẹo mổ chữ T ngược, mức độ duy trì độ nhô của bầu vú và sự phục hồi các loại cảm giác khác nhau của phức hợp quầng núm vú.
  • Tiếp tục theo dõi và đánh giá chức năng tiết sữa ở nhóm bệnh nhân trẻ tuổi khi bước vào thời kỳ sinh nở và nuôi con bằng sữa mẹ sau phẫu thuật.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng đối với:

  • Bác sĩ chuyên khoa Phẫu thuật Tạo hình, Thẩm mỹ và Ngoại khoa: Tham khảo quy trình thiết kế và phẫu tích vạt trục mạch mang phức hợp quầng núm vú, phương pháp xử lý các vú phì đại khổng lồ kèm sa trễ nặng nhằm giảm thiểu biến chứng hoại tử.
  • Bác sĩ chuyên ngành Chẩn đoán hình ảnh: Tham khảo quy trình dựng hình hệ mạch máu vú trên MSCT và kỹ thuật siêu âm Doppler mạch cầm tay định vị mạch xuyên nông thành ngực.
  • Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và giảng viên y khoa: Sử dụng làm tài liệu học tập, giảng dạy về giải phẫu ứng dụng vùng tuyến vú và các kỹ thuật phẫu thuật thu gọn vú bảo tồn cấu trúc giải phẫu.

Câu hỏi thường gặp

1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân vào nghiên cứu của luận án là gì?
Nghiên cứu lựa chọn bệnh nhân nữ từ 14 tuổi trở lên, được chẩn đoán phì đại tuyến vú mức độ rất nhiều và khổng lồ (thể tích từ 1000 ml trở lên theo Lalardrie), có độ sa trễ vú với khoảng cách từ đầu trong xương đòn đến núm vú từ 25 cm trở lên, có mạch cấp máu cho phức hợp quầng núm vú xác định được trên MSCT và siêu âm Doppler cầm tay, có hồ sơ bệnh án đầy đủ và đồng ý tham gia nghiên cứu.

2. Tại sao kỹ thuật Thorek kinh điển lại bộc lộ hạn chế ở các ca phì đại vú khổng lồ?
Kỹ thuật Thorek thực hiện cắt rời phức hợp quầng núm vú và ghép lại như một mảng da ghép tự do dày toàn bộ vào vị trí mới. Do bị cắt đứt hoàn toàn cuống nuôi mạch máu và thần kinh, kỹ thuật này làm mất hoàn toàn chức năng tiết sữa, mất cảm giác của quầng núm vú và có nguy cơ cao bị hoại tử hoặc thiểu dưỡng mảng ghép.

3. Ưu điểm và hạn chế của hai phương pháp chẩn đoán hình ảnh (MSCT và siêu âm Doppler) được luận án nêu ra là gì?
Chụp MSCT dựng hình mạch máu đa chiều có ưu điểm tái hiện chính xác đường đi ba chiều, đường kính và vị trí xuất phát của cuống mạch từ động mạch vú trong hoặc ngực ngoài, nhưng có hạn chế là chi phí cao và người bệnh chịu tia xạ. Siêu âm Doppler mạch cầm tay có ưu điểm thuận tiện, dễ thực hiện, chi phí thấp, định vị trực tiếp đường đi mạch trên da người bệnh trước mổ, nhưng phụ thuộc vào kỹ năng của phẫu thuật viên và khó phát hiện các nhánh mạch nhỏ nằm sâu trong nhu mô.

4. Điểm khác biệt cốt lõi giữa vạt trục mạch và vạt ngẫu nhiên trong phẫu thuật thu gọn vú là gì?
Vạt ngẫu nhiên dựa vào hệ thống vi mạch dưới da không xác định, bị giới hạn bởi tỷ lệ chiều dài/chiều rộng an toàn không quá 2/1, nên dễ bị thiểu dưỡng và hoại tử khi phải di chuyển quãng đường dài trên 25 cm. Vạt trục mạch chứa một trục động mạch và tĩnh mạch xác định chạy dọc chiều dài của vạt, cho phép thiết kế vạt có tỷ lệ chiều dài/chiều rộng lớn hơn (đạt trên 3/1) mà vẫn bảo đảm tưới máu an toàn cho phức hợp quầng núm vú.

5. Nguồn mạch cấp máu chính nào cho phức hợp quầng núm vú được ghi nhận ưu thế trong các khảo sát?
Theo y văn giải phẫu và các khảo sát chẩn đoán hình ảnh trong luận án, nhánh mạch xuyên tách ra từ động mạch vú trong (đặc biệt là các nhánh đi qua khoang liên sườn II–III và III–IV) là nguồn cấp máu phổ biến và ưu thế nhất cho phức hợp quầng núm vú, tiếp theo là các nhánh tách từ động mạch ngực ngoài.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Tạ Thị Hồng Thuý là công trình nghiên cứu ngoại khoa tạo hình chuyên sâu, giải quyết thách thức kỹ thuật trong phẫu thuật thu gọn tuyến vú phì đại mức độ rất nhiều và khổng lồ kèm sa trễ nặng. Bằng việc ứng dụng chụp cắt lớp vi tính đa dãy kết hợp siêu âm Doppler mạch cầm tay, nghiên cứu đã xây dựng quy trình thiết kế vạt trục mạch mang phức hợp quầng núm vú có cơ sở giải phẫu xác định. Kết quả nghiên cứu trên 30 bệnh nhân tại Bệnh viện Bạch Mai chứng minh kỹ thuật này bảo đảm cấp máu an toàn cho phức hợp quầng núm vú, bảo tồn hình thái và cảm giác thần kinh, mang lại giải pháp thay thế kỹ thuật ghép tự do Thorek trong thực hành lâm sàng.