Tổng quan luận án
Trật khớp cùng đòn (TKCĐ) là tổn thương thường gặp trong chấn thương chỉnh hình vùng vai, chiếm khoảng 40% đến 50% tổng số các tổn thương vai do hoạt động thể dục thể thao và tai nạn giao thông (đặc biệt là tai nạn xe gắn máy hai bánh do cơ chế ngã đập trực tiếp vùng vai). Khớp cùng đòn giữ vai trò cơ sinh học thiết yếu trong việc treo đai vai vào xương đòn và nâng đỡ toàn bộ trọng lượng của chi trên. Khi các hệ thống dây chằng giữ vững (dây chằng cùng đòn và dây chằng quạ đòn) bị đứt hoàn toàn—từ độ III trở lên theo phân loại Rockwood—đai vai sẽ di lệch xuống dưới, đầu ngoài xương đòn nhô cao dưới da, dẫn đến đau mạn tính, mỏi cơ, giảm trương lực cơ và suy giảm chức năng vận động vùng vai.
Trong thực hành lâm sàng, hơn 60 phương pháp phẫu thuật đã được áp dụng nhằm phục hồi giải phẫu khớp cùng đòn. Các kỹ thuật cố định tĩnh bằng kim loại (xuyên kim Kirschner qua khớp, bắt vít quạ đòn Bosworth, nẹp móc) thường đi kèm các biến chứng như gãy dụng cụ, trôi kim nguy hiểm đến trung thất, phổi, mạch máu, hủy xương hoặc đẩy nhanh quá trình thoái hóa khớp, đòi hỏi phẫu thuật lần hai để rút phương tiện. Kỹ thuật chuyển dây chằng quạ cùng (Weaver-Dunn cải biên) từng được áp dụng rộng rãi nhưng chỉ đạt 25% sức mạnh cơ học so với dây chằng quạ đòn tự nhiên, dẫn đến tỷ lệ mất nắn khớp sau mổ lên tới 30% (Nguyễn Ngọc Tuấn, 2009).
Về nguồn mô ghép tự thân, gân cơ bán gân khi lấy đi có thể làm suy yếu hệ thống gấp gối, trong khi gân gan tay dài lại không đủ sức chịu tải cơ học tối đa. Gân gấp nông ngón tay 3 có ưu điểm đường kính giải phẫu phù hợp (< 5mm), đủ chiều dài tái tạo, độ bền cơ học cao và chức năng gấp ngón tay có thể được bù trừ hiệu quả bởi gân gấp sâu cùng ngón. Trước thời điểm nghiên cứu, tại Việt Nam chưa có công trình nào đánh giá toàn diện việc ứng dụng gân gấp nông ngón tay 3 để tái tạo theo giải phẫu 2 bó dây chằng quạ đòn kết hợp tái tạo dây chằng cùng đòn.
Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Khảo sát trên thực nghiệm một số đặc điểm giải phẫu và cơ sinh học: chiều dài, đường kính và độ bền chắc (sức chịu lực kéo đứt tối đa) của gân gấp nông ngón tay 3 từ vùng III trở lên.
- Đánh giá kết quả điều trị trật khớp cùng đòn độ III mãn tính; độ IV, độ V và các trường hợp đã phẫu thuật thất bại bằng mổ nắn trật, tái tạo dây chằng quạ đòn 2 bó theo giải phẫu và tái tạo dây chằng cùng đòn từ gân gấp nông ngón tay 3 về: phục hồi chức năng, hình ảnh X-quang, các biến chứng và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu thực nghiệm: Thực hiện trên mẫu gân gấp nông ngón tay 3 nhằm đo đạc kích thước và thử tải cơ học kéo đứt bằng máy đo lực Testometric.
- Nghiên cứu lâm sàng: Thực hiện trên các bệnh nhân trật khớp cùng đòn độ III mãn tính (thời gian tổn thương > 3 tuần), độ IV, độ V và các trường hợp đã phẫu thuật bằng phương pháp khác thất bại (mổ lại), được điều trị và theo dõi tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cùng các bệnh viện chuyên khoa Chấn thương Chỉnh hình tại TP. Hồ Chí Minh, hoàn thành năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan y văn ghi nhận lịch sử phát triển của các phương pháp điều trị trật khớp cùng đòn:
- Lịch sử cố định kim loại và giải phẫu bệnh: Cooper (1861) thực hiện nắn và cố định khớp bằng chỉ bạc; Murray (1940) dùng kim Kirschner xuyên cố định khớp cùng đòn; Bosworth (1941) mô tả kỹ thuật bắt vít từ xương đòn vào nền mỏm quạ qua da hoặc mổ mở. Eskola và cộng sự ghi nhận tỷ lệ hủy xương quanh vít Bosworth lên tới 8/13 trường hợp.
- Hệ thống phân loại tổn thương: Tossy và cộng sự (1963) cùng Allman (1967) phân loại tổn thương khớp cùng đòn làm 3 độ. Rockwood (1989, 1990) hoàn thiện bảng phân loại 6 độ, lấy mốc từ độ III trở lên (đứt toàn bộ dây chằng cùng đòn và quạ đòn) là chỉ định phẫu thuật kinh điển.
- Phẫu thuật tạo hình mô mềm: Weaver và Dunn (1972) đề xuất chuyển dây chằng quạ cùng sang đầu ngoài xương đòn; Ko Adachi (1996) cải tiến mang theo mảnh xương gắn vào rãnh xương đòn và xoắn dây chằng. Morrison và Lemos (1995) dùng vòng chỉ tổng hợp giữa mỏm quạ và xương đòn nhưng đối mặt nguy cơ mòn cắt xương (bào mòn xương đòn hoặc gãy nền mỏm quạ). Lafosse và cộng sự ứng dụng nội soi chuyển dây chằng quạ cùng.
- Nghiên cứu cơ sinh học và giải phẫu thực nghiệm:
- Takase (2010): Khảo sát 40 khớp vai xác tươi, xác định bó thang bám cách mỏm quạ 2 cm (diện bám $13\text{--}26\text{ mm} \times 13\text{--}15\text{ mm}$, khoảng cách trung bình từ chỗ bám rộng nhất đến bờ ngoài xương đòn là $17,4\text{ mm}$); bó nón bám ở bờ sau trong mỏm quạ đến củ nón ($15\text{--}30\text{ mm} \times 3\text{--}6\text{ mm}$, khoảng cách đến bờ ngoài xương đòn trung bình $38\text{ mm}$).
- Harris (2000): Xác định chiều dài trung bình bó nón là $1,94\text{ cm}$, bó thang $1,93\text{ cm}$, khoảng cách giữa hai dây chằng là $2,06\text{ cm}$.
- Mazzocca và cộng sự (2006): Thử nghiệm trên 42 mẫu tử thi so sánh 3 phương pháp (Weaver-Dunn cải biên, gân bán gân 2 bó qua đường hầm xương, vòng chỉ titan nội soi), kết luận kỹ thuật tái tạo giải phẫu 2 bó bằng mô ghép gân phục hồi độ vững trước-sau và trên-dưới tương đương khớp nguyên vẹn.
- Grutter và cộng sự (2005): Đo sức chịu lực kéo đứt: khớp tự nhiên đạt $815\text{ N}$, Weaver-Dunn đạt $483\text{ N}$, gân gan tay dài chỉ đạt $326\text{ N}$, trong khi gân gấp cổ tay quay đạt $774\text{ N}$ ($p < 0,001$ giữa khớp tự nhiên với Weaver-Dunn và gân gan tay dài).
- Yoo và cộng sự (2010): Đánh giá động học trên 10 mẫu xác, chỉ ra rằng bó nón giữ vững trên-dưới và chống di lệch ra trước, bó thang chống di lệch ra sau; kỹ thuật khoan qua đường hầm mỏm quạ giúp chống trượt mảnh ghép tốt hơn kỹ thuật luồn dưới mỏm quạ.
- Lo và cộng sự (2004): Đo đạc khoảng cách giải phẫu từ mỏm quạ đến các cấu trúc mạch máu - thần kinh nguy cơ (thần kinh nách, thần kinh cơ bì, bó ngoài đám rối cánh tay, động mạch nách), xác lập vùng phẫu thuật an toàn.
Khoảng trống nghiên cứu: Các phương pháp trong nước trước đây chủ yếu dừng lại ở việc cố định kim loại tạm thời hoặc chuyển dây chằng quạ cùng (Nguyễn Ngọc Tuấn, 2009 với tỷ lệ mất nắn khớp 30%). Luận án của Vũ Xuân Thành lấp đầy khoảng trống này bằng việc xây dựng quy trình kỹ thuật tái tạo đồng thời 2 bó dây chằng quạ đòn (nón và thang) qua 3 đường hầm xương và tái tạo dây chằng cùng đòn bằng mảnh ghép tự do gân gấp nông ngón tay 3, đánh giá đồng bộ từ cơ sinh học thực nghiệm đến kết quả lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và phân loại tổn thương
Luận án dựa trên lý thuyết cơ sinh học phức hợp đai vai - khớp cùng đòn, bao gồm hệ thống giữ vững tĩnh (dây chằng cùng đòn giữ vững trước - sau trên mặt phẳng ngang; dây chằng quạ đòn gồm bó nón và bó thang giữ vững trên - dưới trên mặt phẳng đứng dọc) và hệ thống giữ vững động (cân cơ thang - delta). Phân loại tổn thương dựa trên hệ thống 6 độ của Rockwood:
| Độ (Rockwood) |
Dây chằng cùng đòn (CĐ) |
Dây chằng quạ đòn (QĐ) |
Cân Thang - Delta |
Khoảng cách quạ đòn (CC) trên X-quang |
Độ rộng khớp CĐ & Di lệch xương đòn |
Khả năng nắn khớp trên lâm sàng |
| Độ I |
Dãn dây chằng |
Còn nguyên |
Còn nguyên |
Bình thường ($1,3\text{ cm}$) |
Khớp bình thường |
Nắn được |
| Độ II |
Đứt hoàn toàn |
Dãn dây chằng |
Còn nguyên |
Tăng $< 25%$ |
Khớp cùng đòn rộng |
Nắn được |
| Độ III |
Đứt hoàn toàn |
Đứt hoàn toàn |
Đứt |
Tăng $25%\text{--}100%$ |
Rộng khớp, đai vai sa xuống |
Nắn được (nâng khuỷu) |
| Độ IV |
Đứt hoàn toàn |
Đứt hoàn toàn |
Đứt |
Tăng |
Đầu ngoài xương đòn di lệch ra sau/xuyên cơ thang |
Không nắn được |
| Độ V |
Đứt hoàn toàn |
Đứt hoàn toàn |
Đứt |
Tăng $100%\text{--}300%$ |
Đầu ngoài xương đòn đội dưới da |
Không nắn được |
| Độ VI |
Đứt hoàn toàn |
Đứt (hoặc còn) |
Đứt |
Giảm |
Đầu ngoài xương đòn trật xuống dưới mỏm quạ |
Không nắn được |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp hai phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu thực nghiệm cơ sinh học:
- Mẫu nghiên cứu: Gân gấp nông ngón tay 3 được lấy từ vùng III trở lên bằng dụng cụ lấy gân chuyên dụng.
- Các biến số đo đạc: Chiều dài hữu dụng ($\text{cm}$), đường kính gân ($\text{mm}$), sức chịu tải kéo đứt tối đa ($\text{Newton}$ - $\text{N}$).
- Thiết bị: Máy kéo nén vạn năng Testometric với giá kẹp chuyên biệt, ghi nhận đồ thị biến dạng - tải trọng và điểm đứt gãy.
- Nghiên cứu can thiệp lâm sàng:
- Đối tượng: Bệnh nhân TKCĐ độ III mạn tính, độ IV, độ V và các ca mổ lại sau thất bại của các phương pháp khác.
- Kỹ thuật phẫu thuật:
- Lấy gân gấp nông ngón tay 3 cùng bên tổn thương từ vùng III qua đường rạch nhỏ ở cổ tay bằng dụng cụ lấy gân (stripper). Hai đầu gân được may bện kiểu xương cá (whipstitch) kết hợp gia cố 2 hoặc 3 sợi chỉ bện không tan Fiberwire số 2.
- Đường mổ dọc theo nếp lằn da (đường Langer) bắt đầu từ bờ sau xương đòn, cách khớp cùng đòn khoảng $3,5\text{ cm}$ vào trong.
- Bộc lộ mỏm quạ và 1/3 ngoài xương đòn; khoan 3 đường hầm xương giải phẫu: 2 đường hầm tại xương đòn (tương ứng vị trí bám bó nón cách đầu ngoài khoảng $38\text{ mm}$ và bó thang cách khoảng $17\text{ mm}$) và 1 đường hầm tại nền mỏm quạ (đường kính mũi khoan từ $2,5\text{ mm}$ đến $3,5\text{ mm}$).
- Luồn mảnh ghép gân và các sợi chỉ Fiberwire qua 3 đường hầm xương theo hình số 8 hoặc vòng giải phẫu, nắn chỉnh diện khớp, cố định tạm thời bằng kim Kirschner, siết cột chỉ Fiberwire và khâu cố định mảnh ghép gân vào chính nó trên mặt trên xương đòn. Tận dụng đầu tự do của gân để vắt qua tái tạo dây chằng cùng đòn.
- Khâu phục hồi vững chắc cân mạc thang - delta.
- Bất động đai vai sau mổ, tập phục hồi chức năng tăng dần theo bài tập chuỗi động đóng (closed-kinetic chain) và chuỗi động mở (open-kinetic chain).
Thang đo và kỹ thuật đánh giá
- Đánh giá chức năng vai: Thang điểm Constant (CS), thang điểm DASH, QuickDASH, ASES, UCLA, SANE, SST, NCS, OSS, thang điểm chất lượng sống SF-12 PCS, thang điểm đau trực quan VAS.
- Đánh giá chức năng bàn tay hiến gân: Bảng câu hỏi Michigan Hand Questionnaire (MHQ), tổng biên độ vận động khớp ngón III (Total Active Motion - TAM), đo sức cầm nắm (SCN) bằng lực kế Jamar đối chiếu hai tay.
- Đánh giá hình ảnh học: Chụp X-quang khớp cùng đòn 2 bên tư thế thẳng trước sau (đo khoảng cách quạ đòn CC), phim Zanca (đầu đèn chếch $10\text{--}15^\circ$ về phía đầu), phim nghiêng nách (đo khoảng cách cùng đòn AC để phát hiện di lệch trước sau), phim khe Stryker (đánh giá gãy mỏm quạ), Stress X-ray có xách tạ $5\text{ kg}$ mỗi tay tại thời điểm sau 6 tháng nhằm kiểm tra độ vững cơ học và hiện tượng mất nắn khớp (Loss of Reduction - LOR).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng kết toàn diện cơ sở giải phẫu học, cơ sinh học và phân loại bệnh học khớp cùng đòn.
- Giải phẫu và cơ sinh học: Khớp cùng đòn có góc nghiêng lên đến $50^\circ$. Xương đòn xoay thực sự khoảng $5^\circ\text{--}8^\circ$ so với mỏm cùng trong vận động đai vai. Dây chằng cùng đòn giữ vững chuyển động trước - sau (bó trên đóng góp 56%, bó sau đóng góp 25% độ vững). Dây chằng quạ đòn giữ vững trên - dưới (bó nón đảm nhận 60% lực cản chuyển động lên trên của xương đòn, bó thang cản chuyển động ra sau).
- Mạch máu và thần kinh liên quan mỏm quạ: Trích dẫn số liệu giải phẫu học của Lo và cộng sự (2004) xác định khoảng cách an toàn từ đỉnh và nền mỏm quạ tới thần kinh nách, thần kinh cơ bì, bó ngoài đám rối cánh tay và động mạch nách (khoảng cách dao động từ $28,5\text{ mm}$ đến $42,7\text{ mm}$), xác nhận phẫu thuật quanh nền mỏm quạ là an toàn nếu bộc lộ sát xương.
- Phân tích các phương pháp phẫu thuật: Phân tích ưu nhược điểm của hơn 60 kỹ thuật điều trị. Các phương pháp kim loại gây biến chứng di chuyển và thoái hóa; Weaver-Dunn yếu về mặt cơ sinh học; vòng chỉ tổng hợp gây cắt mòn xương. Tái tạo dây chằng 2 bó theo giải phẫu bằng gân tự do là hướng đi đạt độ vững tối ưu nhất.
- Cơ sở lựa chọn gân gấp nông ngón 3: Phân tích cơ sinh học bàn tay, hệ thống ròng rọc (A1-A5), mạc treo mạch máu nuôi gân (vincular artery). Chứng minh việc lấy gân gấp nông ngón 3 từ vùng III bảo tồn được chức năng gấp ngón nhờ hoạt động bù trừ của gân gấp sâu ngón 3, không gây biến dạng cổ thiên nga hay suy giảm đáng kể lực cầm nắm.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương này mô tả chi tiết quy trình thực nghiệm và quy trình can thiệp lâm sàng:
- Thiết kế thực nghiệm: Quy chuẩn hóa kỹ thuật bộc lộ gân gấp nông ngón 3, cắt gân tại vùng III, đo đạc kích thước hình thái (chiều dài, đường kính) và gắn vào ngàm kẹp của máy Testometric đo lực kéo đứt tối đa.
- Quy trình phẫu thuật lâm sàng: Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân (TKCĐ Rockwood độ III mạn tính, độ IV, V, các ca thất bại do mổ nẹp móc, vít Bosworth, kim K trước đó). Mô tả chi tiết kỹ thuật khoan 3 đường hầm xương: 2 đường hầm ở xương đòn (bó nón và bó thang) và 1 đường hầm ở mỏm quạ. Phương pháp luồn gân, may bện phối hợp chỉ Fiberwire số 2, nắn trật và khâu cân thang - delta.
- Tiêu chuẩn đánh giá và theo dõi: Định nghĩa các tiêu chí thành công, tiêu chuẩn mất nắn khớp trên X-quang (LOR), các thang điểm chức năng vai (Constant, DASH, QuickDASH) và thang điểm bàn tay (TAM, MHQ, SCN bằng thước Jamar).
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu thập được từ thực nghiệm và theo dõi lâm sàng:
| Nhóm chỉ số |
Thông số / Biến số nghiên cứu |
Kết quả ghi nhận trong luận án |
| Đặc tính cơ sinh học gân gấp nông ngón 3 |
Chiều dài hữu dụng gân |
Đủ chiều dài để tái tạo 2 bó QĐ và dây chằng CĐ |
|
Đường kính gân |
Phù hợp đường hầm xương ($< 5\text{ mm}$) |
|
Sức chịu tải kéo đứt tối đa |
Đáp ứng vượt mức lực căng sinh lý của dây chằng quạ đòn |
| Đặc điểm dịch tễ lâm sàng |
Tuổi trung vị bệnh nhân |
Độ tuổi lao động trẻ, hoạt động thể lực cao |
|
Giới tính & Nghề nghiệp |
Tỷ lệ nam giới chiếm đa số; chủ yếu công nhân, lao động thủ công, nhân viên văn phòng |
|
Nguyên nhân chấn thương |
Tai nạn giao thông (TNGT) chiếm chủ đạo, tiếp đến là tai nạn thể thao (TNTDTT) và sinh hoạt (TNSH) |
|
Phân loại bệnh học |
Gồm các ca cấp tính ($< 3$ tuần), mạn tính ($> 3$ tuần), độ III, độ IV, độ V và các ca mổ lại |
| Kết quả phục hồi chức năng vai |
Điểm Constant Score (CS) |
Tỷ lệ đạt loại Rất tốt và Tốt chiếm ưu thế tuyệt đối |
|
Điểm DASH / QuickDASH |
Giảm rõ rệt mức độ tàn phế đai vai - cánh tay |
|
Mức độ hài lòng của bệnh nhân |
Đa số bệnh nhân rất hài lòng và hài lòng với kết quả phẫu thuật |
| Kết quả X-quang |
Duy trì nắn chỉnh khớp |
Khoảng cách quạ đòn (CC) và cùng đòn (AC) được phục hồi vững chắc |
|
Tỷ lệ mất nắn khớp (LOR) |
Thấp, kiểm soát tốt trên phim Stress X-ray xách tạ $5\text{ kg}$ |
|
Hiện tượng sau mổ |
Ghi nhận một số trường hợp vôi hóa dây chằng, thoái hóa nhẹ khớp cùng đòn |
| Kết quả chức năng bàn tay hiến gân |
Biên độ vận động ngón 3 (TAM) |
Không ảnh hưởng đến tầm vận động bình thường |
|
Điểm chức năng bàn tay (MHQ) |
Bảo tồn tốt chức năng cầm nắm tinh vi, cầm chìa khóa, cầm móc |
|
Sức cầm nắm (SCN qua Jamar) |
Tương đương giữa tay hiến gân và tay lành đối bên |
| Biến chứng ghi nhận |
Biến chứng xương |
Ghi nhận ca gãy xương đòn tại vị trí đường hầm bó thang / bó nón (xử trí mổ nắn kết hợp xương lành tốt) |
|
Biến chứng ngón tay |
Tỷ lệ nhỏ khớp liên đốt gần ngón III bị gấp nhẹ, không ảnh hưởng sinh hoạt |
Chương 4: Bàn luận
Tác giả tiến hành biện luận và so sánh kết quả nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế:
- Đánh giá mảnh ghép gân gấp nông ngón 3: Bàn luận về 3 tiêu chí: đủ chiều dài (tái tạo trọn vẹn bó thang, bó nón và vắt qua mỏm cùng), đường kính tương thích (tránh khoan đường hầm xương đòn quá lớn làm yếu xương) và đủ sức mạnh cơ học (vượt trội so với gân gan tay dài, tương đương gân cơ bán gân nhưng không gây tổn hại vùng khớp gối).
- Phân tích kỹ thuật 3 đường hầm xương: Kỹ thuật tạo 2 đường hầm tại 1/3 ngoài xương đòn và 1 đường hầm tại mỏm quạ giúp khôi phục chính xác véc-tơ lực của bó nón và bó thang. Luận án phân tích việc luồn qua đường hầm mỏm quạ vượt trội hơn kỹ thuật luồn dưới mỏm quạ nhờ loại bỏ hiện tượng trượt dây chằng và bào mòn cơ học.
- Biện luận về tỷ lệ mất nắn khớp (LOR): So sánh với các tác giả quốc tế (Carofino, Tauber, Yoo JC, Nicholas) và tác giả trong nước (Nguyễn Ngọc Tuấn). Kỹ thuật của luận án giảm thiểu rõ rệt tỷ lệ thất bại và mất nắn khớp nhờ sự kết hợp giữa mô ghép sinh học và chỉ bện không tan Fiberwire.
- Phân tích nguyên nhân biến chứng gãy xương đòn: Biến chứng gãy xương đòn tại vị trí đường hầm xương được phân tích sâu sắc dưới góc độ cơ sinh học. Khoảng cách giữa hai lỗ khoan trên xương đòn tối thiểu phải đạt $1\text{ cm}$ đến $1,5\text{ cm}$, đường kính lỗ khoan không vượt quá kích thước gân ghép và tránh tạo khuyết xương tập trung ứng suất lực.
- Tác động lên ngón tay hiến gân: Bàn luận cơ chế bù trừ của gân gấp sâu ngón 3, hệ thống ròng rọc A2, A4 được bảo tồn nguyên vẹn giúp hạn chế tối đa hiện tượng co rút gập ngón hoặc biến dạng ngón tay.
- Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu: Nêu rõ tính đồng bộ từ thực nghiệm đến lâm sàng, đồng thời chỉ ra hạn chế về cỡ mẫu và thời gian theo dõi dài hạn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Cung cấp dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về giải phẫu học hình thái và đặc tính cơ sinh học (chiều dài, đường kính, sức chịu lực kéo đứt tối đa) của gân gấp nông ngón tay 3 lấy từ vùng III trở lên tại Việt Nam, chứng minh đây là nguồn mô ghép tự thân lý tưởng cho phẫu thuật tái tạo phức hợp dây chằng quạ đòn.
- Xác lập cơ sở cơ sinh học chứng minh tính ưu việt của kỹ thuật tái tạo giải phẫu 2 bó (bó nón và bó thang) qua 3 đường hầm xương kết hợp tái tạo dây chằng cùng đòn so với các kỹ thuật chuyển gân không theo giải phẫu (như Weaver-Dunn) hoặc kỹ thuật chỉ tái tạo 1 bó đơn thuần.
Đóng góp về mặt thực tiễn lâm sàng
- Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật phẫu thuật: Lấy gân gấp nông ngón 3 ít xâm lấn bằng dụng cụ chuyên dụng qua cổ tay; xác định vị trí khoan 3 đường hầm giải phẫu trên xương đòn và mỏm quạ an toàn, chính xác; kỹ thuật luồn gân gia cố chỉ Fiberwire số 2 và khâu phục hồi cân thang - delta.
- Đem lại kết quả lâm sàng vượt trội: Khôi phục chức năng khớp vai toàn diện (tỷ lệ Constant Score cao, cải thiện rõ rệt điểm DASH), tỷ lệ mất nắn khớp thấp trên phim X-quang thường quy và Stress X-ray xách tạ $5\text{ kg}$.
- Giải quyết hiệu quả các ca trật khớp cùng đòn phức tạp: Áp dụng thành công cho các trường hợp trật khớp mạn tính (độ III $> 3$ tuần), tổn thương nặng (độ IV, V) và đặc biệt là các ca phẫu thuật thất bại phải mổ lại.
- Bảo tồn an toàn chức năng bàn tay hiến gân: Chứng minh việc lấy gân gấp nông ngón 3 vùng III không làm suy giảm sức cầm nắm (SCN) và biên độ vận động (TAM) của bàn tay.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Về mặt kỹ thuật: Cần tuân thủ khoảng cách tối thiểu giữa 2 đường hầm trên xương đòn ($\ge 1\text{ cm}$), chọn kích thước mũi khoan phù hợp với đường kính gân ghép ($2,5\text{--}3,5\text{ mm}$) nhằm triệt tiêu nguy cơ gãy xương đòn sau mổ.
- Cần khâu phục hồi kỹ lưỡng lớp cân thang - delta để tăng cường yếu tố giữ vững động.
- Áp dụng phác đồ tập phục hồi chức năng sớm có kiểm soát theo chuỗi động đóng, tránh các động tác nâng vật nặng hoặc giơ tay quá đầu trong 6 tuần đầu sau mổ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên các nội dung được trình bày trong luận án:
- Hạn chế:
- Nghiên cứu thực hiện mổ mở; chưa ứng dụng hoàn toàn kỹ thuật nội soi khớp (Assistant of Arthroscopy - A-A) để giảm thiểu xâm lấn mô mềm quanh khớp.
- Cỡ mẫu nghiên cứu ở các phân nhóm trật khớp độ hiếm gặp hoặc ca mổ lại còn hạn chế.
- Thời gian theo dõi một số bệnh nhân chưa đủ dài để đánh giá toàn diện tỷ lệ thoái hóa khớp cùng đòn thứ phát sau 10-15 năm.
- Vẫn ghi nhận tỷ lệ nhỏ biến chứng cơ học như gãy xương đòn tại đường hầm khoan và gấp nhẹ khớp liên đốt gần ngón hiến gân.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Phát triển kỹ thuật tái tạo dây chằng quạ đòn 2 bó giải phẫu bằng gân gấp nông ngón 3 dưới sự hỗ trợ của nội soi khớp vai (Arthroscopy-assisted technique) nhằm giảm thiểu sẹo mổ và tổn thương phần mềm.
- Nghiên cứu tối ưu hóa kích thước và hướng của đường hầm xương bằng mô hình phần tử hữu hạn hoặc định vị 3D để giảm thiểu tối đa nguy cơ gãy xương đòn.
- Tiến hành các nghiên cứu đa trung tâm với thời gian theo dõi dài hạn trên 10 năm.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị thực tiễn và học thuật ứng dụng cao cho nhiều đối tượng:
- Bác sĩ phẫu thuật Chấn thương Chỉnh hình và Phẫu thuật Chi trên: Cung cấp cẩm nang kỹ thuật chi tiết về chỉ định, các bước phẫu thuật bộc lộ mỏm quạ an toàn (tránh tổn thương đám rối thần kinh cánh tay và thần kinh nách), kỹ thuật lấy gân gấp nông ngón 3 qua dụng cụ lấy gân, và quy trình khoan 3 đường hầm xương chuẩn xác.
- Bác sĩ và Kỹ thuật viên Phục hồi chức năng: Tham khảo phác đồ tập luyện chuỗi động đóng/mở, bài tập đung đưa kiểu quả lắc (pendulum exercise), trượt bàn nghiêng và bài tập chèo thuyền đẳng trường, giúp bệnh nhân hồi phục vận động vai an toàn mà không làm lỏng mảnh ghép.
- Học viên sau đại học, Bác sĩ nội trú, Nghiên cứu sinh chuyên ngành Chấn thương Chỉnh hình: Tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa cơ sinh học thực nghiệm và nghiên cứu can thiệp lâm sàng; tổng quan hệ thống về phân loại Rockwood và các kỹ thuật phẫu thuật khớp cùng đòn trên thế giới.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao tác giả chọn gân gấp nông ngón tay 3 làm mảnh ghép thay vì gân cơ bán gân hay gân gan tay dài?
Theo phân tích cơ sinh học trong luận án, gân gan tay dài có sức chịu tải tối đa quá thấp ($326\text{ N}$ so với $815\text{ N}$ của khớp tự nhiên theo Grutter, 2005) nên không đủ độ bền cơ học; gân cơ bán gân đủ sức chịu tải nhưng khi lấy đi sẽ làm suy yếu cơ chế gấp khớp gối. Gân gấp nông ngón 3 đáp ứng toàn diện các tiêu chí: đủ chiều dài, đường kính phù hợp ($< 5\text{ mm}$), sức chịu lực kéo đứt cao và chức năng gấp ngón tay được bù trừ hoàn hảo bởi gân gấp sâu cùng ngón mà không để lại di chứng đáng kể tại bàn tay.
2. Kỹ thuật tái tạo dây chằng trong luận án sử dụng bao nhiêu đường hầm xương và vị trí cụ thể ở đâu?
Kỹ thuật sử dụng 3 đường hầm xương:
- 2 đường hầm tại 1/3 ngoài xương đòn: 1 đường hầm cho bó nón (cách đầu ngoài xương đòn trung bình $38\text{ mm}$) và 1 đường hầm cho bó thang (cách đầu ngoài xương đòn trung bình $17\text{ mm}$).
- 1 đường hầm tại nền mỏm quạ (được khoan chính xác từ bờ trong ra trung tâm đáy mỏm quạ).
3. Vùng an toàn để tránh tổn thương mạch máu - thần kinh khi phẫu thuật tại mỏm quạ là gì?
Dẫn chứng từ nghiên cứu của Lo và cộng sự (2004), cấu trúc có nguy cơ tổn thương cao nhất là thần kinh nách và bó ngoài đám rối thần kinh cánh tay (cách mặt trước trong đỉnh mỏm quạ lần lượt $30,3\text{ mm}$ và $28,5\text{ mm}$; cách nền mỏm quạ $29,3\text{ mm}$ và $36,6\text{ mm}$). Do đó, phẫu thuật viên phải phẫu tích bám sát xương ở mặt trên và nền mỏm quạ, tránh bóc tách sâu hoặc đặt van kéo thô bạo về phía trước trong.
4. Biến chứng cơ học nào được ghi nhận trên xương đòn và giải pháp phòng ngừa là gì?
Luận án ghi nhận biến chứng gãy xương đòn tại vị trí đường hầm khoan bó thang hoặc bó nón sau chấn thương hoặc do tập trung ứng suất lực. Giải pháp phòng ngừa được đề xuất: đường kính mũi khoan hầm xương không quá lớn ($2,5\text{--}3,5\text{ mm}$), giữ khoảng cách giữa 2 đường hầm trên xương đòn tối thiểu từ $1\text{ cm}$ đến $1,5\text{ cm}$, mép lỗ khoan vát nhẵn và hạn chế vận động mang vác nặng sớm.
5. Phương pháp chụp X-quang nào được dùng để kiểm tra độ vững cơ học sau mổ từ 6 tháng trở đi?
Luận án sử dụng kỹ thuật Stress X-ray (chụp X-quang thẳng khớp cùng đòn hai bên có mang vật nặng): bệnh nhân đứng thẳng, hai tay xách tạ $5\text{ kg}$ mỗi bên để so sánh khoảng cách quạ đòn (CC) giữa bên phẫu thuật và bên lành, từ đó đánh giá chính xác khả năng duy trì nắn chỉnh khớp và phát hiện hiện tượng mất nắn khớp (LOR).
Kết luận
Luận án Tiến sĩ Y học của tác giả Vũ Xuân Thành đã giải quyết thành công bài toán điều trị trật khớp cùng đòn độ III mạn tính, độ IV, độ V và các trường hợp mổ thất bại bằng kỹ thuật tái tạo 2 bó dây chằng quạ đòn theo giải phẫu kết hợp tái tạo dây chằng cùng đòn từ gân gấp nông ngón tay 3. Nghiên cứu chứng minh tính ưu việt của mảnh ghép gân gấp nông ngón 3 về độ bền cơ sinh học, kích thước giải phẫu và độ an toàn tuyệt đối đối với chức năng bàn tay hiến gân. Kết quả phục hồi chức năng vai sau mổ đạt tỷ lệ cao, duy trì độ vững giải phẫu ổn định trên X-quang và Stress X-ray, khẳng định giá trị ứng dụng thực tiễn của quy trình phẫu thuật trong chuyên ngành Chấn thương Chỉnh hình tại Việt Nam.