mở đầu về giới hạn thời gian nghiên cứu luận án này, các tác phẩm của Nguyễn Quang Hƣng, Nguyen- Marshall, Claire Trần Thị Liên, Nguyễn Đức Lộc,. đều khai thác nhiều nguồn tƣ liệu giá trị, có độ tin cậy cao. Năm 2004, Nguyễn Quang Hƣng đăng bài ―Vài nét về cuộc di cƣ của giáo dân Bắc Kỳ sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954‖ trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo. Bài nghiên cứu này chọn đối tƣợng là cuộc di cƣ của giáo dân bắc kỳ năm 1954.
Bài báo dẫn chứng, so sánh nhiều tƣ liệu để phác họa ra những yếu tố tâm lý của ngƣời Công giáo miền bắc khi chọn lựa sự di cƣ vào miền Nam. Trong rất nhiều điều tác động đến việc ra đi của ngƣời giáo dân mà Nguyễn Quang Hƣng nêu ra, đáng lƣu ý là ―tâm lý hoảng sợ, mặc cảm với chủ nghĩa cộng sản‖ và ―hiểu biết về đạo Kitô của các cấp chính quyền còn hạn chế‖ (tr. Những dữ kiện này cho phép nhận định về tâm lý ái ngại của ngƣời Công giáo và những phản xạ co cụm tồn tại trong nhiều nhóm Công giáo ở TP.HCM hiện nay. Nguyen-Marshall (2009) trong ―Tools of Empire? Vietnamese Catholics in South of Viet Nam‖ (―Công cụ của đế quốc? Ngƣời Công giáo Việt Nam ở miền Nam‖) trình bày nghiên cứu từ góc nhìn liên quan đến thể chế chính trị về cuộc di cƣ 1954.
Nguyen-Marshall cho rằng: Việc tập trung gắn ngƣời Công giáo với chƣơng trình di cƣ vào Nam và việc hình thành chính phủ chống cộng của ông Diệm đã dẫn đến một hệ quả: ngƣời Công giáo Việt nam bị xem xét từ những góc nhìn phiến diện, với sự phụ thuộc vào các thế lực ngoại quốc‖ (đoạn 6) 15 Claire Trần Thị Liên (2010) với ―The Catholic Question in North Viet Nam from Polish sources (1945 – 1954)‖ (―Vấn đề Công giáo miền Bắc Việt Nam qua tƣ liệu lƣu trữ Ba Lan‖ (1945 – 1954) – bản dịch Nguyễn Ngọc Giao), khai thác những tƣ liệu lƣu trữ của phái đoàn Ba Lan từ Cách Mạng Tháng Tám đến 1954, đã làm sáng tỏ nhiều góc khuất của sự kiện di cƣ 1954. Nghiên cứu chỉ ra những suy nghĩ và hành động của nhà nƣớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng với những chiến lƣợc mà Ba Lan, một nƣớc Cộng sản với đa số dân Công giáo đã tham vấn lúc đó. Cùng suy tƣ về cuộc di cƣ 1954 này, Nguyễn Đức Lộc năm 2014 trong ―Cuộc di cƣ năm 1954 phải chăng là một định mệnh lịch sử của ngƣời Công giáo miền Bắc?‖, cho rằng đây là một khúc quanh lịch sử, ―một định mệnh ly hƣơng‖: ―Trong tâm khảm của ngƣời dân Bắc Bộ, chuyến đi năm 1954 là một định mệnh của bản thân họ và các thế hệ của con cháu họ‖ (tr.83) Số lƣợng những nghiên cứu về các khía cạnh và động lực của cuộc di cƣ 1954 tuy chƣa nhiều nhƣng các công trình tiêu biểu vừa nêu đều có hàm lƣợng khoa học cao, quan điểm khách quan, dựa trên những cứ liệu đáng tin cậy. Trái lại, số lƣợng các nghiên cứu về cuộc sống của giáo dân miền bắc tại miền nam từ sau cuộc di cƣ 1954 này lại dồi dào, trong đó các học giả ngƣời Mỹ và các nƣớc đồng minh tham chiến tại miền nam chiếm đa số.
Các đề tài tập trung vào 21 năm Công giáo tại Sài Gòn và miền nam phải đối diện với bất ổn chính trị, xã hội liên tiếp. Lacouture (1966) trong Vietnam: Between Two Truces đã chứng minh rằng các xứ đạo Công giáo ở Sài Gòn hình thành theo các cụm nhằm tạo thành ―vành đai dân tị nạn Công giáo‖ (tr.63) bảo vệ dòng họ Ngô. Cộng đồng Công giáo là hình thức cƣ trú đặc biệt tại Sài Gòn, vây bọc các cửa ngõ; tuy gần nhau, nhƣng mỗi cộng đồng lại đề cao các giá trị khác nhau. Nghiên cứu của ông là tài liệu sớm nhất bàn về các cụm xứ đạo hình thành sau năm 1954, một trong những nét đặc sắc của Công giáo ở Sài Gòn.
Larsen Dana (1985) trong In search of the third force: The American lobby for Ngo Dinh Diem , viện dẫn các tài liệu sử học của chế độ Sài Gòn, trình bày về sự tài trợ của Mỹ cho chính quyền Ngô Đình Diệm. Điều đáng chú ý của công trình này là ở phần nêu ra các lợi ích mà giáo dân Sài Gòn nhận đƣợc từ nguồn 16 viện trợ. Larsen mô tả về một vùng Công giáo phía bắc thành phố trồng cây trái, một vùng phía nam nhiều trí thức và một vùng phía đông với những họ đạo nam bộ ít đƣợc viện trợ. Nhƣ vậy, thực trạng giáo dân Sài Gòn khi ấy, qua lời kể của Larsen, cho thấy ít nhất đã có ba cụm ở thành phố.
Đến Nguyễn Ngọc Tân, đại học Monash (1997) với “The miracle of Vietnam”: The Establishment and Consolidation of Ngo Dinh Diem’s Regime, 1954 – 1959, ủng hộ nhận định của Lacouture (1966) về một vành đai Công giáo Sài Gòn. Ông nghiên cứu về vấn đề hình thành chính quyền Ngô Đình Diệm giai đoạn 1954 – 1959 trên khuynh hƣớng thiên về quyết định luận địa lý. Tuy nhiên, Philip E. Carton, đại học Kansas (2002) trong Diem’s final failure: Prelude to America’s War in Vietnam, khi chọn nghiên cứu sự khơi mào chiến tranh của ngƣời Mỹ lại ủng hộ nhận định Larsen Dana nêu ra.
Thông qua lý thuyết Domino, Philip cho rằng, ngƣời Mỹ đã can thiệp sai thời điểm. Trƣớc khi ông Diệm bị lật đổ, chính quyền Sài Gòn đã lo ngại ―chính quyền dân sự‖ của các giáo xứ tị nạn, vì vậy mà từ cuối giai đoạn 2 cuộc di cƣ, đã đƣa dân di cƣ ra xa hơn nhƣ Xuân Lộc, Cái Sắn,. cụ thể là, ―mối quan hệ giữa Sài Gòn và cộng đồng Công giáo vốn căng thẳng bởi những nỗ lực của chính phủ nhằm kìm hãm chính quyền dân sự do các linh mục tạo lập ở các khu làng tị nạn‖ (tr.61) Peter Hansen (2009) với ―Bac di cu: Catholic Refugees from the North of Vietnam, and their role in the Southern Republic, 1954 – 1959‖ cũng trên quan điểm gần với Philip E. Từ quan điểm ―hành vi lựa chọn‖, Hansen phân tích giai đoạn 5 năm đầu tiên sau cuộc di cƣ và lý giải cách khác cho sự kiện mà trƣớc đó Lacouture (1966) cho rằng: các xứ đạo Công giáo ở Sài Gòn hình thành theo các cụm nhằm tạo thành vành đai bảo vệ dòng họ Ngô.
Nghiên cứu về đời sống giáo dân hậu di cƣ tại Sài Gòn, nhƣng khác với Lacouture, Larsen Dana, Peter Hansen; Tuan Hoang (2013) tiếp cận từ lý thuyết ―ký ức văn hóa‖. Tác phẩm Ideology in Urban South Viet Nam, Tuan Hoang cho rằng có một ―mạch truyền văn hóa: bắc tiền 54 – nam hậu 54‖. Mỗi cộng đồng cố giữ ―mạch truyền riêng‖, vì vậy, mỗi cụm Công giáo đề cao từng giá trị khác biệt không phải do tiếp biến mà là do thành phần xuất thân tiền di cƣ. Lập luận của 17 Tuan Hoang (2013) đề cao tính truyền thừa hơn tiếp biến.
Sự nhấn mạnh vào kiểu tụ họp theo thành phần xuất thân, là một góc nhìn mới. Luận cứ của ông giúp luận án thêm góc nhìn mới về những dị biệt từ tính nội sinh văn hóa vùng miền. Nhìn nhận có phần giống với Tuan Hoang (2013), Jessica Chapman (và nhóm giáo sƣ) (2014) với Cauldron of Resistance: Ngo Dinh Diem, the United States, and 1950s Southern Vietnam đã nhấn mạnh vào sự ảnh hƣởng của các trí thức Công giáo và các thỏa hiệp ngầm với lực lƣợng Bình Xuyên ở Quận 8, Cao Đài của Phạm Công Tắc ở Tây Ninh và Hòa Hảo ở An Giang (Jessica Ch. Những nhận định này củng cố cho điều mà Larsen Dana lẫn Tuan Hoang đã tƣờng thuật về vùng Công giáo nhiều trí thức phía nam thành phố.
Claire Trần Thị Liên (2013) cũng có công trình nghiên cứu về đời sống chính trị của ngƣời Công giáo trong khoảng thời gian 21 năm này: ―The challenge for peace within South Vietnam‘s Catholic Community: History of Peace activism‖ (Tạm dịch: ―Thử thách vì hòa bình trong cộng đồng Công giáo miền Nam Việt Nam: lịch sử hành động vì Hòa Bình‖). Claire Trần Thị Liên chứng thực một cộng đồng Công giáo đã tái cấu trúc tại miền nam. Giữa bối cảnh một Sài Gòn nóng bỏng bởi chiến tranh và những tranh đấu tƣ tƣởng cục bộ, Công giáo nỗ lực xây dựng vai trò tìm kiếm hòa bình. Những luận điểm mà Claire Trần Thị Liên trình bày cho thấy những phƣơng cách tìm kiếm hòa bình đa dạng, đôi khi trái ngƣợc nhau, nhƣng tựu trung lại, Công giáo trong giai đoạn 1954 – 1975 đã không đứng bên lề, thờ ơ với sứ mệnh lịch sử nhƣ giai đoạn Pháp thuộc nhƣ Pierre – Richard Féray tƣờng thuật.
Nhóm công trình về Công giáo miền nam từ sau năm 1975 Claire Trần Thị Liên (2010) nghiên cứu về cộng đồng Công giáo bắc – nam đã hợp nhất sau 1975 trong đối diện với chính quyền của một Việt Nam đã thống nhất qua tác phẩm ―Les relations entre l‘Église catholique et l‘État au Vietnam depuis le Đổi Mới. Chủ điểm quan trọng nhất là con đƣờng đi đến sự đối thoại, hợp tác giữa giáo hội Công giáo và nhà nƣớc chỉ thực 18 sực bắt đầu từ chính sách Đổi mới 1986 và con đƣờng đối thoại đều từ sự nhận thức cần phải Đổi mới từ cả hai phía. Bà viết: Sau giai đoạn đầu khó khăn, giáo hội đang trải qua một cuộc đổi mới không thể phủ nhận. Việc thực hiện chính sách đổi mới (Đổi Mới) từ năm 1986 và công cuộc mở cửa đất nƣớc, kết quả là sau hơn 40 năm kết thúc chiến tranh, đã góp phần cải thiện quan hệ giữa giáo hội và nhà nƣớc (tr.2 Nguyễn Xuân Nghĩa (2012) nghiên cứu về sự canh tân của Công đồng Vatican II (1962 – 1965) và những ảnh hƣởng đối với giáo hội Việt Nam.
Ông cho rằng Công đồng Vatican II là sự cập nhật hóa, đối thoại của giáo hội Công giáo với thời hiện đại. Cũng từ Vatican II, ý thức tôn trọng văn hóa thể hiện rõ và sớm nhất ở điểm ―trong các nghi thức phụng vụ, các giáo hội địa phƣơng sử dụng tiếng nói địa phƣơng thay vì tiếng Latinh‖ (tr. ―Công đồng Vatican II đã đem đến những thay đổi đáng kể trong mối quan hệ giữa Công giáo và thời hiện đại‖ (tr.16) Bàn đến nhiều khía cạnh cụ thể của văn hóa của Công giáo ở miền nam sau 1975 còn có ―Thiên Chúa giáo tại Nam bộ‖ trong hợp tuyển ―Những vấn đề dân tộc, tôn giáo ở miền Nam‖ của Nguyễn Nghị (1994) và ―Công giáo trong văn hóa Việt Nam‖ của Nguyễn Hồng Dƣơng (2002). Cả hai tác phẩm đều đề cập một cách tổng quát đến những đặc điểm văn hoá dị biệt trong Công giáo Việt Nam so với Công giáo thế giới.