Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về quy trình kiểm toán khoản mục Chỉ phí trả trước trong kiểm toán Báo cáo tài chính Chương 2. Thực trạng vận dụng quy trình kiểm toán khoản mục Chi phí trả trước trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Grant Thornton Việt Nam thực hiện Chương 3. Đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục Chi phí trả trước trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty TNHH Grant Thornton Việt Nam thực hiện CHUONG 1.
NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN VE QUY TRÌNH KIEM TOÁN KHOẢN MỤC CHI PHÍ TRA TRƯỚC TRONG KIEM TOÁN BAO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Khái quát chung về khoản mục Chỉ phí trả trước 1.1 Khái niệm về khoản mục Chỉ phí trả trước Chi phí trả trước là một khoản chi phí đã phát sinh, mà doanh nghiệp phải bỏ ra để mua một công cụ dụng cụ hay một số tài sản khác (nhưng chưa đủ điều kiện dé được ghi nhận là tài sản theo VAS) và các dịch vụ có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nhiều kỳ nhưng chưa được tính hết vào chỉ phí sản xuất hay kinh doanh của doanh nghiệp. Tại điều 47, Thông tư 200/2014/TT-BTC (Có hiệu lực từ ngày 1/1/2015), quy định: “Chi phí trả trước dùng để phản ánh các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có liên quan đến kết quả hoạt động SXKD của nhiều kỳ kế toán và việc kết chuyển các khoản chi phí này vào chi phí SXKD của các kỳ kế toán sau”. Về thực chất, các khoản chỉ phí thực tế có phát sinh liên quan đến nhiều kỳ kinh doanh được hạch toán vào chi phí trả trước mà không hạch toán trực tiếp vào chi phí SXKD trong ky dé dam bảo chi phí phát sinh thực tế không gây đột biến cho chi phi SXKD trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí.2 Phân loại Chỉ phí trả trước Các khoản Chi phí trả trước được chia thành 2 khoản mục trên BCTC, đó là: Chi phí trả trước ngăn hạn (Mã số 151) và Chi phí trả trước dài hạn (Mã số 261). Hiện tại theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, Chi phí trả trước ngắn hạn và dài hạn đã được gdp chung thành TK 242; thay vì sử dụng TK 142 cho Chi phí tra trước ngắn hạn và TK 242 cho Chi phí trả trước dài hạn theo Thông tu cũ.
Tuy nhiên, doanh nghiệp cần theo dõi đồng thời cả hai khoản mục này và trình bày chúng trên BCTC: Kỳ hạn trên Sd 12 thang aa ee Công cụ dụng cụ Dai han (261) Pg Chỉ phítrảtrước _ ee = ~ Chi phi can được phân bố Kỳ hạn dưới trong 12 tháng nhiều kỳ Ngắn hạn (151) M6 hình 1. Phân loại Chỉ phí trả trưóc ngắn hạn và dài hạn 1.1 Chỉ phí trả trước ngắn hạn (Mã số 151) - “Chi phí trả trước ngắn hạn phản ánh số tiền trả trước dé được cung cấp hàng hóa, dịch vụ trong khoảng thời gian không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ sản xuất kinh doanh thông thường ké từ thời điểm trả trước”. Chỉ phi trả trước dài hạn (Mã số 261) - “Chi phí trả trước dai hạn phản ánh số tiền trả trước dé được cung cap hàng hóa, dịch vụ có thời hạn trên 12 tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất kinh doanh thông thường ké từ thời điểm trả trước. Lợi thế thương mai và lợi thế kinh doanh còn chưa phân bồ vào chỉ phí tại thời điểm báo cáo”.3 Nguyên tắc kế toán Chỉ phí trả trước - Theo điều 47, thông tư 200/2014/TT-BTC, các nội dung được phản ánh là Chỉ phí trả trước, gồm: e Chi phí trả trước về thuê cơ sở hạ tầng, thuê hoạt động TSCD phục vụ cho SXKD nhiều kỳ kế toán.
e Chi phí thành lập doanh nghiệp, đào tạo, quảng cáo trong giai đoạn trước hoạt động được phân bồ tối đa không quá 3 năm. © Các loại lệ phí, chi phí mua bảo hiểm (cháy nổ, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ phương tiện vận tải, bảo hiểm thân xe, tài sản,.) mà doanh nghiệp mua và trả một lần cho nhiều kỳ kế toán. e_ CCDC, dé dùng cho thuê, bao bì luân chuyền, các khoản chi phí trả trước khác phục vụ cho hoạt động kinh doanh trong nhiều kỳ kế toán. e_ Chỉ phí đi vay trả trước về lãi tiền vay hoặc lãi trái phiếu ngay khi phát hành.
© Chi phí sửa chữa TSCD phat sinh một lần có giá trị lớn, phân bổ tối đa không quá 3 năm. e Số chênh lệch giá bán nhỏ hơn giá trị còn lại của TSCĐ bán và thuê lại là thuê tài chính và ngược lại là thuê hoạt động. e Hợp nhất kinh doanh có phát sinh lợi thế thương mại nhưng không phải là quan hệ công ty mẹ - công ty con. e Những loại chỉ phí liên quan đến nghiên cứu hoặc cho giai đoạn triển khai nhưng không đủ tiêu chuẩn ghi nhận là TSCD vô hình thì không được ghi nhận là chi phí trả trước mà được ghi nhận ngay là chi phí SXKD.
- _ Căn cứ vào tính chat, mức độ từng loại chi phí dé lựa chọn phương pháp và tiêu thức hợp lý cho việc tính và phân bổ Chi phí trả trước vào chi phí SXKD từng kỳ kế toán. - _ Từng khoản chi phí trả trước theo từng kỳ hạn phải được kế toán theo dõi một cách chỉ tiết. - _ Đối với các khoản chi phí trả trước bằng ngoại tệ, trường hợp tại thời điểm lập báo cáo có bằng chứng chắc chắn về việc người bán không thé cung cấp hàng hóa, dịch vụ và doanh nghiệp sẽ chắc chắn nhận lại các khoản trả trước băng ngoại tệ thì được coi là các khoản mục tiền té có sốc ngoại tỆ và phải đánh giá lại theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm báo cáo (là tỷ giá mua của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên có giao dịch).4 Trình bày khoản mục Chỉ phí trả trước trên Báo cáo tài chính Trên Bang cân đối kế toán, Chi phí trả trước được trình bày trên chỉ tiêu chỉ phí trả trước ngắn hạn và chi phí trả trước dài hạn, cụ thé: - Chi phí trả trước ngắn hạn (Mã số 151) được trình bày phản ánh tổng giá trị tài sản ngắn hạn khác. Số dư Nợ chi tiết của tài khoản 242 “Chi phí trả trước” là căn cứ để thành số liệu ghi vào chỉ tiêu “Chi phí trả trước ngắn hạn”.
- Chi phí trả trước dài hạn (Mã số 260) được trình bày phản ánh tổng giá trị tài sản dài hạn khác. Số dư No chỉ tiết của tài khoản 242 “Chi phí trả trước” là căn cứ dé thành số liệu ghi vào chỉ tiêu “Chi phí trả trước dai hạn”. Trên Bản Thuyết minh BCTC, chỉ phí trả trước được trình bày trong mục số 4, cụ thé là “Nguyên tắc kế toán chi phi trả trước”. Trong đó, kế toán phải làm rõ các nội dung sau: - Chi phí trả trước được phân bồ tương ứng vào những khoản chi phí SXKD nào - Phuong pháp và thời gian phân bổ ké cả trong trường hợp khi cổ phan hóa phát sinh lợi thế thương mại và kinh doanh - Chi phí trả trước có được theo dõi chi tiết theo kỳ hạn 49 Chỉ phí trả trước Công cụ dụng cụ Công cụ dụng cu bao gồm tài sản được Công ty nắm giữ dé sử dung cho kỷ kinh doanh thông thường có nguyên giá dưới 30 triệu đồng và không đủ điều kiện dé ghi nhận là tai sản cố định theo Thông tư 45/2013/TT-BTC do Bộ Tài Chính ban hành ngày 25 thang 4 năm 2013 quy định về việc quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định.
Nguyên giá của công cụ, dụng cụ được phân bỗ theo phương pháp đường thẳng tử 1 năm đến 3 năm. Nguyên tắc kế toán Chi phí trả trước trong phan Thuyết minh BCTC Công cụ dụng cụ Công cụ dung cu bao gồm tài sản được Công ty nắm giữ dé sử dung cho kỷ kinh doanh thông thường có nguyên giả dưới 30 triệu đồng và không đủ điều kiện dé ghi nhận là tài sản cố định. Nguyên giá của công cụ, dụng cụ được phân bé theo phương pháp đường thang từ 1 năm đến 3 năm. Chi phí trả trước dài hạn khác Chi phí trả trước dài hạn khác gồm các chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong nhiều niên độ kế toán.
Nguyên giá của các chi phí trả trước dài hạn khác được phân bỗ vào Báo cáo kết quả kinh doanh theo thời gian hữu dụng ước tinh của tai sản hay thời gian trả trước của khoản chi phí đó. Nguyên tắc kế toán Chỉ phí trả trước trong phan Thuyết minh BCTC Nguồn Hình 1.2: Phan thuyết minh được trình bày trên BCTC được kiểm toán bởi Grant Thornton Việt Nam 1. Dac điểm khoản mục Chi phi trả trước ảnh hướng đến công tác kiểm toán Thứ nhất, điều 47 trong Thông tư 200/2014/TT-BTC đã đề cập khái niệm: “Chi phí trả trước là chỉ phí thực tế đã phát sinh nhưng có liên quan đến kết quả hoạt động SXKD của nhiêu ky kế toán”. Nếu phản ánh chi phí không phù hợp sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của kỳ hạch toán và các kỳ kế toán tiếp.
Điều này yêu cầu Kiểm toán viên cần lưu ý những loại chi phí nào là chi phí thực tế và hạch toán phù hợp vào các tài khoản liên quan. Nhìn một cách tổng quát, có thé thấy khoản mục Chi phí trả trước xuất phát từ những nguồn chủ yếu sau: - Chi phí có giá trị lớn phải phân bổ trong nhiều kỳ. - Công cụ, dụng cụ: Đây là các CCDC có giá trị tương đối lớn, được đưa vào khoản mục Chi phí trả trước dé theo dõi. Phan giá trị đưa vào sử dụng cho mục đích SXKD được hạch toán vào chi phí trong ky, giá trị còn lại của tài khoản sẽ tiếp tục được theo dõi.
Thứ hai, phương pháp lựa chọn và thời gian phân bổ phải căn cứ vào các chuẩn mực kế toán Việt Nam và lựa chọn của đơn vi, nó được thống nhất qua các kỳ kế toán và được ghi nhận trong bảng theo dõi tình hình phân bổ. Nếu như chuẩn mực và chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành không quy định cụ thể về thời gian phân bé thì doanh nghiệp phải căn cứ vào tính chat, giá trị và thời gian hữu dụng của khoản chi phí đó dé xác định thời gian và tiêu thức phân bổ. Chính bởi vậy, có thé dẫn đến trường hợp doanh nghiệp thực hiện việc phân bé sai, nhằm lẫn trong tính toán các chi phí trong kỳ, từ đó ảnh hưởng đến kết quả SXKD 9 trong kỳ và những kỳ sau.