Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, việc chuyển đổi phương thức đào tạo từ truyền thụ kiến thức thụ động sang phát triển phẩm chất, năng lực người học đang là yêu cầu cấp thiết. Môn học Công tác quốc phòng, an ninh (Học phần II trong chương trình Giáo dục quốc phòng và an ninh) giữ vai trò then chốt trong việc trang bị kiến thức quân sự, bồi dưỡng lòng yêu nước, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng và rèn luyện bản lĩnh chính trị cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh – Đại học Thái Nguyên, đơn vị có bề dày hơn 28 năm xây dựng với lưu lượng đào tạo tập trung nội trú khoảng 1.700 sinh viên mỗi khóa trên khuôn viên rộng 15,5327 ha, thực tế giảng dạy môn học này vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Có tới hơn 65% sinh viên xem đây chỉ là môn học điều kiện không tính vào điểm tích lũy trung bình chung (GPA), dẫn đến thái độ tiếp cận mang tính đối phó, thiếu sự chủ động và hạn chế trong tư duy phản biện.

Nhằm giải quyết triệt để thực trạng trên, nghiên cứu của tác giả Bùi Duy Khánh tập trung làm rõ cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng giảng dạy và xây dựng quy trình chuẩn hóa về việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn Công tác quốc phòng, an ninh. Mục tiêu trọng tâm của luận văn là biến quá trình dạy học thành quá trình tự học, kích thích tư duy độc lập và năng lực hợp tác của người học. Đề tài được triển khai thực nghiệm sư phạm trực tiếp tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh – Đại học Thái Nguyên trong năm học 2019–2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp giải pháp gia tăng 35% đến 40% mức độ hứng thú học tập, cải thiện từ 15% đến 20% kết quả kiểm tra định kỳ, đồng thời kiến tạo mô hình dạy học tương tác phù hợp với môi trường kỷ luật quân sự nội trú.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng kết hợp với hệ thống lý thuyết giáo dục hiện đại. Khung lý thuyết trọng tâm bao gồm Thuyết học tập tương tác xã hội (Social Constructivism) và Thuyết dạy học tích cực, nhấn mạnh vai trò trung tâm của người học trong việc chủ động kiến tạo tri thức thông qua giao tiếp và tương tác đa chiều. Đề tài kế thừa tư tưởng giáo dục hợp tác của các nhà sư phạm kinh điển như Georg Michael Kerschenteiner về việc khơi dậy tinh thần trách nhiệm cá nhân qua tổ chức nhóm tự quản, cùng mô hình học tập hợp tác của David W. Johnson và Roger T. Johnson nhằm khắc phục tính tự mãn, triệt tiêu động cơ ích kỷ của lối học tranh đua cá nhân. Đồng thời, nghiên cứu quán triệt sâu sắc quan điểm "lấy tự học làm cốt" nhưng có sự hỗ trợ của "thảo luận và chỉ đạo" theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát Điều 36b Luật Giáo dục sửa đổi số 44/2009/QH12 về đổi mới phương pháp giáo dục đại học.

Khung lý thuyết của luận văn vận hành xoay quanh 4 khái niệm cốt lõi: Phương pháp dạy học hiện đại, Nhóm học tập, Phương pháp thảo luận nhóm và Năng lực tự học kết hợp tư duy phản biện. Mô hình tổ chức thảo luận nhóm được thiết kế tương thích với 8 bài học chuyên đề của Học phần II (bao gồm: phòng chống chiến lược Diễn biến hòa bình, phòng chống tiến công hỏa lực công nghệ cao, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, bảo vệ chủ quyền biển đảo, vấn đề dân tộc - tôn giáo, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc và phòng chống tội phạm tệ nạn xã hội). Luận văn phân loại 4 hình thức chia nhóm chuyên biệt: nhóm nhỏ thông thường (5 đến 7 sinh viên), nhóm rì rầm (2 đến 3 sinh viên), nhóm kim tự tháp (ghép tầng từ 8 đến 16 sinh viên) và nhóm đồng tâm (nhóm thảo luận tương tác song song với nhóm quan sát phản biện), tạo nền tảng vững chắc cho việc thiết kế các tình huống sư phạm chính trị - xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra xã hội học, quan sát sư phạm trực tiếp và tổ chức thực nghiệm đối chứng. Cỡ mẫu khảo sát thực trạng bao gồm toàn bộ 15 cán bộ, giảng viên chuyên trách giảng dạy bộ môn Công tác quốc phòng, an ninh và 320 sinh viên đại diện cho các khối ngành Sư phạm, Kỹ thuật, Y - Dược, Nông lâm đang theo học nội trú tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh – Đại học Thái Nguyên. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cao, phản ánh chính xác đặc điểm nhận thức của các đối tượng sinh viên đến từ nhiều môi trường học thuật khác nhau.

Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp định lượng và định tính. Phân tích định lượng sử dụng thống kê mô tả, tính tần suất, điểm trung bình và kiểm định sai số để đo lường mức độ chuyển biến về kết quả học tập qua bài kiểm tra 1 tiết và điểm thi điều kiện. Phân tích định tính tập trung mổ xẻ thái độ, hành vi giao tiếp và kỹ năng giải quyết tình huống của sinh viên trong các giờ học thảo luận. Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp này là vì môn học Công tác quốc phòng, an ninh vừa đòi hỏi nắm vững hệ thống kiến thức lý luận chuẩn mực, vừa yêu cầu đánh giá định tính sâu sắc về lập trường tư tưởng chính trị và phẩm chất đạo đức công dân. Timeline nghiên cứu được thực hiện liên tục trong 14 tháng (từ tháng 9/2019 đến tháng 11/2020), trải qua 3 giai đoạn: xây dựng đề cương lý luận, khảo sát thực trạng kết hợp thiết kế quy trình và triển khai thực nghiệm sư phạm đối chứng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng ban đầu phản ánh sự mất cân đối rõ rệt trong việc sử dụng các phương pháp giảng dạy tại Trung tâm. Có tới 68,5% giờ học lý thuyết vẫn sử dụng phương pháp thuyết trình truyền thống một chiều, trong khi tỷ lệ giảng viên thường xuyên vận dụng phương pháp thảo luận nhóm chỉ chiếm 24,2%. Tình trạng này khiến 61,8% sinh viên thừa nhận ít có cơ hội bày tỏ quan điểm cá nhân, dẫn đến tâm lý thụ động và giảm sút động lực tiếp thu các nội dung lý luận chính trị vốn có tính trừu tượng cao.

Tiến hành thực nghiệm sư phạm đối chứng trên 320 sinh viên (chia đều thành nhóm Thực nghiệm n = 160 và nhóm Đối chứng n = 160) với cùng một khung nội dung chương trình đã mang lại những phát hiện đột phá:

  • Chất lượng học tập vượt trội: Điểm kiểm tra định kỳ 1 tiết của nhóm Thực nghiệm ghi nhận tỷ lệ đạt loại Giỏi và Xuất sắc lên tới 36,25%, cao hơn gấp gần 2 lần so với mức 18,75% của nhóm Đối chứng (mức chênh lệch đạt +17,5%). Ngược lại, tỷ lệ sinh viên xếp loại Trung bình và Yếu ở nhóm Thực nghiệm giảm mạnh xuống mức 3,75%, trong khi nhóm Đối chứng vẫn còn ở mức 21,25%.
  • Mức độ hứng thú và tinh thần tích cực tăng vọt: Có tới 79,38% sinh viên ở nhóm Thực nghiệm đánh giá giờ học "Rất hứng thú" và chủ động nghiên cứu tài liệu trước khi lên lớp, trong khi con số này ở nhóm Đối chứng chỉ đạt 28,12% (tăng gấp 2,82 lần).
  • Đột phá về kỹ năng mềm và bản lĩnh chính trị: 88,1% sinh viên nhóm Thực nghiệm thể hiện sự tự tin khi thuyết trình, lập luận logic và nhạy bén nhận diện, phản bác các luận điệu xuyên tạc về Luật An ninh mạng, chủ quyền Biển Đông trong bài tập tình huống thực tế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự bứt phá của nhóm Thực nghiệm bắt nguồn từ việc thiết kế quy trình thảo luận nhóm 3 giai đoạn khoa học, gắn chặt với điều kiện sinh hoạt nội trú 100% của Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh – Đại học Thái Nguyên. Việc sinh viên cùng sinh hoạt theo biên chế tiểu đội, trung đội quân sự tạo ra không gian tương tác liên tục, giúp việc trao đổi đề tài nghiên cứu vượt ra ngoài phạm vi 45 phút của tiết học trên giảng đường. Khi giảng viên đóng vai trò là trọng tài và người cố vấn, giao các tình huống mang tính thời sự (như phân tích âm mưu Diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp), sinh viên bị kích thích nhu cầu tự học, tự tìm kiếm nguồn thông tin chính thống để bảo vệ quan điểm của nhóm mình.

Kết quả nghiên cứu này hoàn toàn tương thích và làm sâu sắc thêm các kết luận của các nhà nghiên cứu giáo dục trong nước về tính ưu việt của mô hình dạy học tương tác, đồng thời khắc phục triệt để hạn chế "thảo luận hình thức" mà nhiều trường đại học đang gặp phải. Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua hệ thống biểu đồ cột so sánh phân phối điểm số giữa hai nhóm lớp và bảng ma trận đánh giá 6 tiêu chí năng lực (năng lực tự học, giải quyết vấn đề, hợp tác, giao tiếp, sáng tạo và quản lý thời gian). Biểu đồ phân phối điểm số thể hiện rõ đường cong lệch phải tích cực của nhóm Thực nghiệm, minh chứng rằng phương pháp thảo luận nhóm không chỉ nâng cao điểm số trung bình mà còn thu hẹp đáng kể khoảng cách nhận thức giữa sinh viên khá giỏi và sinh viên trung bình.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuẩn hóa và nhân rộng mô hình dạy học tích cực, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược với các chỉ số hành động cụ thể:

  • Chuẩn hóa quy trình 3 giai đoạn trong thiết kế bài giảng: Giảng viên bộ môn Công tác quốc phòng, an ninh cần xây dựng ngân hàng câu hỏi tình huống gắn với 8 chuyên đề cốt lõi. Bắt buộc dành từ 25% đến 30% thời lượng của mỗi tiết học lý thuyết cho hoạt động thảo luận nhóm nhỏ từ 5 đến 7 sinh viên. Mục tiêu: 100% bài giảng lý thuyết Học phần II được tích hợp bài tập tình huống tương tác thực tế từ học kỳ I năm học 2021–2022.
  • Cải tiến hình thức kiểm tra, đánh giá theo hướng đa chiều: Phòng Đào tạo và các tổ bộ môn điều chỉnh cơ cấu điểm đánh giá học phần, nâng tỷ trọng điểm quá trình tham gia thảo luận nhóm và đánh giá đồng đẳng (peer assessment) lên mức 30% tổng điểm học phần. Thiết lập phiếu chấm điểm chéo minh bạch giữa các thành viên tiểu đội để triệt tiêu hoàn toàn hiện tượng ỷ lại trong làm việc nhóm.
  • Nâng cấp cơ sở vật chất và không gian học tập linh hoạt: Ban Giám đốc Trung tâm chỉ đạo cải tạo hệ thống bàn ghế di động tại 10 phòng học thuộc nhà giảng đường 3 tầng, trang bị bảng phụ di động, máy chiếu và phủ sóng mạng nội bộ tốc độ cao phục vụ tra cứu dữ liệu. Thời gian hoàn thành: Trong vòng 12 tháng, bảo đảm 100% phòng học lý thuyết đạt chuẩn tổ chức không gian nhóm.
  • Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng sư phạm quân sự cho giảng viên: Đại học Thái Nguyên phối hợp với các cơ quan chuyên trách tổ chức định kỳ 2 khóa tập huấn mỗi năm về kỹ thuật điều hành thảo luận, phương pháp đặt câu hỏi gợi mở và nghệ thuật giải quyết xung đột nhóm cho 100% đội ngũ giảng viên và sĩ quan biệt phái.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý giáo dục và Ban Giám đốc các Trung tâm GDQP-AN toàn quốc: Tài liệu cung cấp cơ sở khoa học để hoạch định lại chiến lược phân bổ thời lượng giảng dạy, tối ưu hóa cơ sở vật chất giảng đường và xây dựng chuẩn đầu ra theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học.
  • Giảng viên và Sĩ quan biệt phái giảng dạy GDQP-AN: Đây là cuốn cẩm nang sư phạm thực chiến, cung cấp chi tiết quy trình thiết kế bài giảng tình huống, tiêu chí chia nhóm và bộ công cụ kiểm tra đánh giá sinh viên trong môi trường quân sự đặc thù.
  • Học viên cao học và Nhà nghiên cứu chuyên ngành Khoa học Giáo dục, Lý luận dạy học: Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình thực nghiệm sư phạm đối chứng, phương pháp xử lý dữ liệu thống kê kết hợp lý luận giáo dục tương tác hiện đại.
  • Sinh viên các trường đại học, cao đẳng: Giúp người học nắm vững phương pháp làm việc nhóm, kỹ thuật tự học, tự nghiên cứu và nâng cao bản lĩnh chính trị để đạt thành tích xuất sắc trong các kỳ học nội trú quân sự.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao phương pháp thảo luận nhóm đặc biệt phát huy hiệu quả trong môi trường nội trú GDQP-AN? Môi trường học tập nội trú 100% giúp sinh viên cùng ăn ở, sinh hoạt theo chế độ tiểu đội quân đội, tạo điều kiện thuận lợi để tiếp tục trao đổi ngoài giờ học. Phương pháp thảo luận nhóm tận dụng tối đa tính gắn kết tập thể này để chuyển hóa kiến thức lý luận khô khan thành nhận thức chung của cả tiểu đội.

  • Quy mô nhóm bao nhiêu sinh viên là tối ưu nhất cho giờ học lý thuyết? Nghiên cứu khẳng định quy mô từ 5 đến 7 sinh viên mỗi nhóm là lý tưởng nhất. Quy mô này bảo đảm mọi thành viên đều có cơ hội phát biểu, dễ phân công nhiệm vụ (trưởng nhóm, thư ký, người báo cáo) và giúp giảng viên dễ dàng kiểm soát hoạt động của các nhóm trong giảng đường đông người.

  • Làm thế nào để loại bỏ tình trạng sinh viên ỷ lại, không chịu làm việc trong nhóm? Luận văn đề xuất giải pháp áp dụng cơ chế đánh giá 3 chiều: giảng viên đánh giá nhóm, các nhóm chấm chéo lẫn nhau và các thành viên trong tiểu đội tự đánh giá mức độ đóng góp cá nhân. Điểm số cá nhân được tính dựa trên phần trăm công sức đóng góp thực tế được tập thể công nhận.

  • Cơ sở vật chất tối thiểu cần có để triển khai thảo luận nhóm là gì? Cần phòng học có bàn ghế dễ sắp xếp thành các cụm chữ U hoặc vòng tròn, bảng phụ di động hoặc giấy khổ lớn để ghi chép ý kiến, máy chiếu phục vụ phần báo cáo và tài liệu học tập tình huống được biên soạn sẵn với các hướng dẫn chi tiết.

  • Luận văn đã chứng minh sự tiến bộ về điểm số của sinh viên như thế nào? Qua thực nghiệm sư phạm trên 320 sinh viên, nhóm Thực nghiệm đạt tỷ lệ điểm Giỏi và Xuất sắc là 36,25% (nhóm Đối chứng chỉ đạt 18,75%), đồng thời tỷ lệ sinh viên xếp loại Trung bình và Yếu giảm xuống còn 3,75% (nhóm Đối chứng là 21,25%), khẳng định tính hiệu quả vượt bậc của mô hình.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về phương pháp thảo luận nhóm trong giảng dạy lý luận chính trị và khoa học giáo dục quân sự đại học.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng giảng dạy Học phần II tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh – Đại học Thái Nguyên, chỉ rõ các rào cản về phương pháp và tâm lý người học.
  • Xây dựng thành công quy trình 3 giai đoạn chuẩn hóa và 6 nguyên tắc sư phạm cốt lõi trong tổ chức thảo luận nhóm môn Công tác quốc phòng, an ninh.
  • Kiểm chứng hiệu quả thông qua thực nghiệm sư phạm: nâng tỷ lệ học lực Giỏi lên 36,25% và tỷ lệ sinh viên hứng thú học tập lên 79,38%.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ có tính khả thi cao, áp dụng hiệu quả cho giảng viên, cấp quản lý và sinh viên.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã chuẩn hóa thành công quy trình vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong môi trường giáo dục quân sự đặc thù, biến môn học vốn bị xem là khô khan thành diễn đàn trao đổi học thuật sôi nổi. Mô hình có lộ trình mở rộng áp dụng cho 100% các học phần GDQP-AN trong giai đoạn tiếp theo. Quý độc giả, giảng viên và các nhà nghiên cứu hãy tham khảo, áp dụng ngay các giải pháp thực tiễn từ luận văn để nâng tầm chất lượng giảng dạy và học tập!