CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu BSC trong lĩnh vực giáo dục 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về BSC trong lĩnh vực giáo dục Hamid Tohidi và cộng sự đã viết bài nghiên cứu “Using Balanced Scorecard in educational organization” được công bố năm 2010 tập trung giải quyết vấn đề lập kế hoạch chiến lược cho các tổ chức giáo dục tại Iran. Bài nghiên cứu đã cung cấp bản đồ chiến lược để áp dụng hiệu quả cho các tổ chức giáo dục và tính linh hoạt của mô hình BSC để giải quyết các vấn đề của một tổ chức giáo dục, nâng cao hiệu quả hoạt động của nó. Kết quả nghiên cứu đã rút ra một số lợi ích của việc sử dụng công cụ BSC cho các tổ chức giáo dục: - Tổ chức tập trung vào các chiến lược về dịch vụ giáo dục thay vì cung cấp nhiều dịch vụ chất lượng thấp. - Kế hoạch hoạt động hàng năm sẽ được điều chỉnh cho thích hợp.
- Sự tham gia của nhân viên trong quá trình ra quyết định. Demetrius Karathanos và Patricia Karathanos đã viết bài nghiên cứu “Applying the Balanced Scorecard to Education” đăng tải ở tạp chí Journal of Education for Business số 80 năm 2005 tập trung giải quyết hai vấn đề là: (1) Các tiêu chuẩn chất lượng Baldrige về hiệu quả hoạt động đã áp dụng BSC cho hoạt động giáo dục như thế nào, (2) Những khác biệt về BSC đối với hoạt động kinh doanh và BSC đối với hoạt động giáo dục. Bài viết đã giới thiệu Giải thưởng chất lượng quốc gia Baldrige - Baldrige National Quality Program, với trọng tâm là Tiêu chuẩn giáo dục về hiệu quả xuất sắc được phát triển trong bộ Giải thưởng về chất lượng quốc gia Baldrige từ năm 1999. Các tiêu chuẩn của Baldrige yêu cầu các tổ chức tuân thủ theo trong lĩnh vực kinh doanh là tương đồng với BSC, tuy nhiên trong lĩnh vực giáo dục, có một số phương diện khác so với lĩnh vực kinh doanh.
Kết quả nghiên cứu đã rút ra 6 phương diện cần quan tâm trong lĩnh vực giáo dục là: Kết quả học tập của học sinh; Quá trình tập trung vào học sinh và các bên liên quan; Ngân sách, tài chính và thị trường; Nhân viên và các khóa giảng dạy; Hiệu quả của tổ chức, bao gồm các biện pháp về hoạt động nội bộ chính; Pháp luật và trách nhiệm xã hội. Bài nghiên cứu cũng lấy ví dụ về ba trường học đã được nhận giải thưởng Baldrige 6 về giáo dục lần đầu tiền năm 2001 là: Học khu Chugach, học khu Pearl River và trường đại học Wisconsin-Stout. Linda Forbes và John Hamilton đã viết bài nghiên cứu “Building an International Student Market: Educational - Balanced Scorecard Solutions for Regional Australian Cities” đăng tải trên tạp chí International Education Journal năm 2004 đã tập trung giải quyết vấn đề về mô hình quản lý giáo dục vận dụng mô hình BSC. Kết quả nghiên cứu đã xây dựng một bảng hướng dẫn những hoạt động cần làm và không nên làm để thu hút và quản lý tốt học sinh du học tại Khu Cairns từ đó làm cơ sở vận dụng phương pháp tiếp cận bằng mô hình BSC.
Đây là một cách tiếp cận quan trọng để cung cấp chiến lược, bản đồ chiến lược, đo lường và định lượng kết quả của hoạt động giáo dục tại Khu Cairns. Nopadol Rompho đã viết bài nghiên cứu “Building the Balanced Scorecard for the University Case Study: The University in Thailand” công bố năm 2004. Bài nghiên cứu tập trung trả lời ba câu hỏi: (1) Các trường đại học khác áp dụng mô hình BSC như thế nào? (2) Mô hình BSC cho trường đại học dựa trên nhận thức của các bên liên quan tại trường Đại học Thammasat như thế nào? (3) Nhận thức của cán bộ quản lý trường đại học Thammasat về việc sử dụng mô hình BSC cho trường học là gì? Kết quả nghiên cứu cung cấp một phương pháp xây dựng mô hình BSC ứng dụng vào thực tiễn hoạt động quản lý giáo dục tại trường đại học Thammasat. Xuất phát từ việc lựa chọn và phỏng vấn các bên liên quan của công ty gồm nhân viên học thuật, học sinh, quản lý, nhân viên hành chính, nhà quản lý, nhà tài trợ tài chính.để hình thành một bảng câu hỏi bao gồm những thước đo được đề xuất cho đánh giá kết quả hoạt động của trường.
Sau đó bảng câu hỏi được gửi đến cho một bộ phận những nhân viên học thuật để khảo sát. Căn cứ kết quả của cuộc khảo sát để lựa chọn 28 thước đo trong 4 phương diện để xây dựng BSC.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam về BSC trong lĩnh vực giáo dục BSC đã được ứng dụng thực tế ở nhiều công ty trên thế giới và ở Việt ở cả lĩnh vực kinh doanh và lĩnh vực giáo dục, tác giả tổng hợp và so sánh một số bài nghiên cứu trong nước về ứng dụng mô hình BSC vào đo lường kết quả hoạt động trong lĩnh vực giáo dục về các chỉ tiêu như bậc giáo dục, phạm vi nghiên cứu, loại hình sở hữu của đơn vị, vấn đề nghiên cứu và kết quả nghiên cứu. Bên cạnh đó tác giả cũng chỉ ra các chỉ tiêu 7 trong đề tài ứng dụng mô hình BSC tại công ty TNHH Thiện Tấn Dũng nhằm giúp cho người đọc có cái nhìn tổng quát về các nghiên cứu và khe hổng nghiên cứu hiện nay. Phạm Bậc Loại vi Vấn đề Kết quả nghiên Tác giả Tên đề tài giáo hình sở nghiên nghiên cứu cứu dục hữu cứu Vận dụng mô Vận dụng mô hình Bảng điểm hình BSC để cân bằng Mầm Xậy dựng mô Xây đề xuất các (Balanced non hình BSC và kế dựng thước đo và Scorecard) để và hoạch triển khai BSC Trường khảo sát lựa xây dựng hệ tiểu BSC cho năm cho dân lập chọn thước để thống đo lường học 2019 dựa trên toàn xây dựng mô kết quả hoạt tiếng chiến lược đến trường hình Bảng động tại công ty Pháp năm 2024 điểm cân TNHH Thiện bằng Tấn Dũng Xây dựng bảng Vận dụng Phân Xây dựng mô điểm cân bằng BSC đã được Nguyễn bổ hình BSC năm (Balanced Đơn vị công bố cho Thị BSC 2017 cho nhà scorecard) để đo Đại hành riêng lĩnh vực Diễm xuống trường và các bộ lường thành quả học chính sự giáo dục vào Trang một số phận dựa trên chiến lược tại nghiệp giải quyết (2016) bộ chiến lược đến trường Đại học thực trạng tại phận năm 2020 Bạc Liêu nhà trường Xây dựng các chỉ tiêu đo lường Xây Xây dựng Xây dựng mô Lê Thị tổng thể theo dựng Đơn vị BSC sử dụng hình BSC và kế Lan bốn khía cạnh BSC Cao hành phương pháp hoạch triển khai Anh của BSC tại cho đẳng chính sự phỏng vấn năm 2015 cho (2015) trường Cao đẳng toàn nghiệp chuyên gia nhà trường nghề tỉnh Bà Rịa trường - Vũng Tàu Xây Vận dụng các Lê Xây dựng bảng dựng Đơn vị Triển khai vận cơ sở lý Mộng cân bằng điểm BSC Đại hành dụng mô hình thuyết của Huyền để đo lường cho học chính sự BSC tại nhà BSC đã được (2014) thành quả hoạt toàn nghiệp trường năm 2015 công bố riêng động tại trường trường cho lĩnh vực 8 Đại học Quy giáo dục vào Nhơn giải quyết thực trạng tại nhà trường Vận dụng Bảng Vận dụng điểm cân bằng Xây BSC để đưa Xây dựng mô Trần trong đánh giá dựng Đơn vị ra một số kiến hình BSC và kế Thị Mỹ thành quả hoạt BSC Cao hành nghị nhằm hoạch triển khai Linh động tại trường cho đẳng chính sự giải quyết năm 2014 cho (2014) Cao đẳng Kỹ toàn nghiệp thực trạng tại nhà trường Thuật Cao trường nhà trường Thắng Vận dụng bảng Xây Vận dụng Phạm cân bằng điểm Xây dựng mô dựng BSC vào thực Thị trong đánh giá hình BSC và kế BSC Cao Trường trạng đánh giá Thu kết quả hoạt hoạch triển khai cho đẳng dân lập kết quả hoạt Quỳnh động tại trường năm 2013 cho toàn động tại nhà (2013) Cao đẳng Đức nhà trường trường trường Trí Đà Nẵng Vận dụng Bảng Xây Vận dụng điểm cân bằng dựng Học BSC để đưa Xây dựng mô Nguyễn trong đánh giá Đơn vị BSC viện ra một số ý hình BSC và kế Quỳnh thành quả hoạt hành cho - kiến kiến nghị hoạch triển khai Giang động tại học viện chính sự toàn Phân giải quyết năm 2013 cho (2013) Ngân hàng - nghiệp phân viện thực trạng tại phân viện Phân viện Phú viện phân viện Yên Vận dụng Bảng cân bằng điểm Xây Vận dụng Lý trong đánh giá Xây dựng mô dựng Đơn vị BSC vào thực Nguyễn kết quả hoạt hình BSC và kế BSC Cao hành trạng đánh giá Ngọc động tại trường hoạch triển khai cho đẳng chính sự kết quả hoạt Thu Cao Đẳng Sư năm 2010 cho toàn nghiệp động tại nhà (2010) Phạm Trung nhà trường trường trường Ương Thành phố Hồ Chí Minh Bảng 1.1: Tổng quan nghiên cứu ứng dụng BSC vào lĩnh vực giáo dục 1.3 Khe hổng nghiên cứu 9 Các bài nghiên cứu về BSC trong lĩnh vực giáo dục trên thế giới đã chỉ ra rằng các bên liên quan trong hoạt động kinh doanh thông thường và hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục là khác nhau, chính vì vậy các chủ đề chiến lược đối với hoạt động cung cấp dịch vụ giáo dục cũng có nhiều điểm khác biệt như: cần tập trung vào kết quả học tập của học sinh, sự hài lòng của cả học sinh và phụ huynh, chất lượng của giáo viên và các khóa học.
Điều này dẫn đến việc vận dụng mô hình BSC trong xây dựng hệ thống đo lường kết quả hoạt động của tổ chức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục sẽ có những điểm khác biệt so với những tổ chức hoạt động kinh doanh thông thường. Các bài nghiên cứu về BSC trong lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam đã kế thừa kết quả của những nghiên cứu trên thế giới về sự khác biệt trong lĩnh vực giáo dục để xây dựng thành công mô hình BSC cho toàn tổ chức hoặc phân bổ xuống từng bộ phận trong tổ chức. Tuy nhiên, những mô hình BSC để đánh giá kết quả hoạt động ở lĩnh vực giáo dục đã hoàn thành chỉ mới được áp dụng tại các trường ở bậc đại học, cao đẳng và trung học. Đối tượng và độ tuổi giảng dạy ở mỗi bậc sẽ khác nhau, dẫn đến các bên liên quan của nhà trường cũng sẽ khác nhau; điều này dẫn đến chiến lược kinh doanh cho các trường ở từng cấp học sẽ khác nhau.