CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được tác giả tham khảo và sắp xếp theo trình tự thời gian. Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu từ các công trình này được tóm tắt và trình bày lại như sau: 1. Các nghiên cứu nước ngoài Có rất nhiều đề tài nghiên cứu nước ngoài liên quan đến vận dụng thẻ điểm cân bằng có thể kể đến như: Eric Tanyi (2011) trong luận văn “Factors in influencing the use of the balanced scorecards by managers” tại Hanken School of Economics. Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng trong luận văn là phương pháp nghiên cứu định lượng.
Tác giả đưa ra ý tưởng nghiên cứu các tác động đến ứng dụng thẻ điểm cân bằng bao gồm: những hệ thống kiểm soát được ứng dụng trong doanh nghiệp (OCS), phương thức nhà quản lý đánh giá các cấp phụ thuộc (ESM), phương thức cán bộ quản lý nhận biết các nguồn thông tin (MRI), tính dễ sử dụng (PEOU) và ảnh hưởng của sự nhận biết về tính hữu ích (PU). Tác giả tiến hành khảo sát 34 cấp quản trị trong các tổ chức đang sử dụng BSC ở Phần Lan. Kết quả nghiên cứu công bố 2 nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức ứng dụng thẻ điểm cân bằng là phương thức cán bộ quản lý nhận biết nguồn thông tin (MRI) và tính dễ sử dụng (PEOU). (2014) trong nghiên cứu “Firm characteristics and balanced scorecard usage in Singapore manufacturing firms” đăng trên International Journal of Accounting & Information Management.
Trong nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu các đặc trưng của doanh nghiệp trong việc sử dụng BSC trong các doanh nghiệp sản xuất ở Singapore. Phương pháp nghiên cứu tác giả sử dụng là phương pháp nghiên cứu định lượng với số liệu tổng hợp bằng kỹ thuật khảo sát thông qua bảng câu hỏi. 7 Nghiên cứu này nhằm mục đích kiểm tra các tác động của việc sử dụng thẻ điểm cân bằng (BSC) đối với hiệu quả hoạt động trong bối cảnh bốn biến tiềm ẩn trong các doanh nghiệp sản xuất của Singapore. Kết quả cho thấy các công ty có nhiều khả năng áp dụng BSC hơn nếu họ có quy mô lớn, có sản phẩm ở giai đoạn đầu của vòng đời sản phẩm (PLC), hoạt động trong môi trường không chắc chắn cao hoặc áp dụng chiến lược khác biệt hóa.
Tuy nhiên, việc áp dụng BSC chỉ cải thiện hiệu suất ở các công ty lớn hoặc có sản phẩm ở giai đoạn đầu PLC. Kết quả cho thấy rằng các yếu tố tiềm ẩn mà một công ty hoạt động có thể ảnh hưởng đáng kể đến kết quả của việc áp dụng BSC. Carol Chepng’eno Koske and Dr. Willy Muturi (2015) trong nghiên cứu “Factors affecting application of balanced scorecard: a case study of non-govemental organizations in Eldonet, Kenya” được đăng trên tạp chí Stategic Journal of Business & Change Management.
Tác giả nghiên cứu những nhân tố tác động đến việc ứng dụng BSC trong những tổ chức phi chính phủ tại Eldoret, Kenya. Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp định lượng, dữ liệu được thu thập thông qua kỹ thuật khảo sát bằng bảng câu hỏi. Mẫu nghiên cứu khảo sát được xác định là 55 cán bộ quản lý và nhân viên tại 11 tổ chức phi chính phủ. Kết quả nghiên cứu công bố các nhân tố sau có ảnh hưởng đến ứng dụng BSC bao gồm: nhân tố chi phí tổ chức thực hiện BSC, nhận thức của cấp quản lý về tính hữu ích của BSC, quy mô của doanh nghiệp và nhận thức của cấp quản lý về tính dễ ứng dụng của BSC.
(2016) trong nghiên cứu “Extrinsic and intrinsic factors in the balanced scorecard adoption: An empirical study in Potuguess organizations” đăng trên tạp chí European Journal of Management and Business Economics. Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là kết hợp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng với số liệu tổng hợp thông qua khảo sát bảng câu hỏi được gửi bằng đường bưu điện, tác giả đã thu được 155 phản hồi hợp 8 lệ từ các tổ chức tư nhân ở Bồ Đào Nha. Mục đích nghiên cứu là phân tích mối quan hệ giữa một tập hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài tổ chức tới việc chấp nhận BSC. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ phong phú của sản phẩm dịch vụ mà các doanh nghiệp cung cấp, yếu tố vốn đầu tư nước ngoài và quy mô tổ chức có ảnh hưởng tích cực, tương quan thuận đến việc vận dụng BSC.
Gichuki, Jane (2020) trong nghiên cứu “Factors influencing the implementation of balance scorecard in insurance companies in Kanya”. PPNC được sử dụng là phương pháp định lượng. Sử dụng cấu trúc bảng câu hỏi để thu thập dữ liệu, tác giả khảo sát 80 doanh nghiệp bảo hiểm về việc vận dụng BSC tại các công ty này ở Kanya thông qua 4 biến phụ thuộc gồm sự tham gia của nhóm (team involvement), phân bổ nguồn lực (resourse allocated), sự tham gia của lãnh đạo (leadership involvement) và văn hóa tổ chức (organizational culture). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ có yếu tố văn hóa tổ chức có tác động tích cực đến việc vận dụng BSC tại các công ty bảo hiểm ở Kenya mặc dù mối quan hệ này không có giá trị thống kê.
Vì vậy, ngụ ý của nghiên cứu là cần phải thực hiện thêm các nghiên cứu về đặc thù hoạt động trong các công ty bảo hiểm ở Kenya dựa trên những tài liệu hiện có. Từ đó, chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa các yếu tố phân bổ nguồn lực, sự tham gia lãnh đạo, sự tham gia của nhóm với việc thực hiện biến phụ thuộc. Surachman Surjaatmadja, Aini Kusniawat (2020) trong nghiên cứu về việc áp dụng thẻ điểm cân bằng ở các công ty dược tại Indonesia. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng ở nghiên cứu này là phương pháp nghiên cứu định tính thông qua bảng câu hỏi khảo sát trên 62 hãng dược phẩm mẫu ở Jakarta cùng với phỏng vấn quan sát và phỏng vấn sâu.
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm biết được hiệu quả hoạt động của các công ty ở Jakarta (thủ đô của Indonesia) với việc sử dụng thẻ điểm cân bằng. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là khảo sát mô tả để xác định các khía 9 cạnh khác nhau của hiệu quả kinh doanh như tiếp thị, vận hành sản xuất, tài chính, nguồn nhân lực, tính hợp pháp, thể chế, hợp tác… Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra hiệu quả từ mỗi khía cạnh của thẻ điểm cân bằng. Từ góc độ tài chính có quy mô trung bình là 3.223 trên thang điểm 1-5, có nghĩa là các hãng dược ở Jakarta khi được xem từ góc độ tài chính đang ở một vị trí khá tốt trong việc thực hiện quản lý tài chính. Trong khi đó quản lý marketing: 1.912, quy trình kinh doanh nội bộ: 1.765 và tăng trưởng và học tập là 2.
Eva Benková và các cộng tác giả (2020) trình bày kết quả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thẻ điểm cân bằng trong việc đo lường hiệu quả hoạt động của các công ty trong lĩnh vực kỹ thuật. Phương pháp nghiên cứu áp dụng là phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng. Mục tiêu chính của nghiên cứu là xác minh tầm quan trọng của việc sử dụng các yếu tố phi tài chính trong quản lý doanh nghiệp liên quan đến việc sử dụng thẻ điểm cân bằng đồng thời xác minh sự phụ thuộc giữa việc sử dụng thẻ điểm cân bằng với việc thiếu nguồn nhân lực và tài chính để sử dụng nó. Nghiên cứu thực hiện trong khoảng thời gian sáu tháng.
Kết quả chính của nghiên cứu là phát hiện ra rằng có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa các doanh nghiệp xem xét các chỉ số phi tài chính và việc sử dụng thẻ điểm cân bằng. Ngoài ra nghiên cứu tìm ra sự tồn tại phụ thuộc giữa việc thiếu các nguồn lực đến việc vận dụng thẻ điểm cân bằng thông qua kiểm định Chi square: p = 0,0446 liên quan đến nguồn nhân lực và p = 0,0377 liên quan đến nguồn tài chính. Đây được xem là các rào cản quan trọng trong việc triển khai phương pháp luận BSC vào thực tiễn doanh nghiệp. Các giá trị này xác nhận các kết quả nghiên cứu khác liên quan đến các rào cản của việc sử dụng BSC.
Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam cũng có rất nhiều luận văn Thạc Sĩ, luận án Tiến Sĩ liên quan đến thẻ điểm cân bằng điển hình như: 10 Nguyễn Đình Trường (2014) với nghiên cứu “Xây dựng bảng cân bằng điểm để đo lường thành quả hoạt động tại trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật VINATEX thành phố Hồ Chí Minh”. Phương pháp nghiên cứu chủ đạo được sử dụng là phương pháp định tính. Tác giả đã nghiên cứu và đưa ra một số vấn đề mới so với các đề tài trước đây bao gồm việc sử dụng bảng điểm cân bằng để đo lường thành quả hoạt động trong một cơ sở công lập, vẫn là 4 nhóm chỉ tiêu theo lý thuyết Kaplan. Tuy nhiên, để áp dụng hiệu quả vào thực tế đơn vị, tác giả tiến hành phân tầng bảng điểm từ bảng điểm cấp cao phân xuống bảng điểm các cấp thấp hơn.
Bảng điểm cá nhân cũng được đề cập tuy nhiên trong khuôn khổ đề tài, cấp thấp nhất là cấp Phòng, Khoa. Ngoài ra, tác giả còn kết nối các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động với các chỉ tiêu chiến lược, liên kết các chỉ tiêu theo mối quan hệ nhân quả. Kết quả nghiên cứu đi đến thiết lập được hệ thống bảng biểu trên nền tảng excel làm cho quá trình từ xây dựng chỉ tiêu, xây dựng bảng điểm cân bằng đến vận dụng vào nhà trường dễ dàng hơn. Nghiên cứu mang tính ứng dụng cao với các chỉ tiêu và biểu mẫu rõ ràng.
Nguyễn Trần Phương Giang (2017) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng bảng cân bằng điểm BSC trong các công ty niêm yết tại thành phố Hồ Chí Minh”. PPNC được tác giả sử dụng là phương pháp định lượng. Mô hình của tác giả gồm có 6 nhân tố: quy mô công ty, nhận thức của nhà quản lý về BSC, chiến lược kinh doanh, văn hóa công ty, chi phí tổ chức, trình độ nhân viên kế toán với tổng cộng 23 biến quan sát độc lập. Thông qua câu hỏi khảo sát, kết quả xử lý bằng phần mềm SPSS22.
Số mẫu thu thập được là 147. Thang đo được đánh giá sơ bộ bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và kiểm định bằng phân tích nhân tố khám phá EFA.