CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm người quản lý doanh nghiệp 1. Lý thuyết về quản trị doanh nghiệp, quản lý doanh nghiệp và người quản lý 1. Quản trị doanh nghiệp Quản trị công ty (doanh nghiệp) là hệ thống được xây dựng để điều khiển và kiểm soát các doanh nghiệp.
Cấu trúc quản trị công ty chỉ ra cách thức phân phối quyền và trách nhiệm trong số những thành phần khác nhau có liên quan tới công ty như Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc), cổ đông, và những chủ thể khác có liên quan. Quản trị công ty cũng giải thích rõ quy tắc và thủ tục để ra các quyết định liên quan tới vận hành công ty. Bằng cách này, quản trị công ty cũng đưa ra cấu trúc thông qua đó người ta thiết lập các mục tiêu công ty, và cả phương tiện để đạt được mục tiêu hay giám sát hiệu quả công việc. Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được ban giám đốc và hội đồng quản trị theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn8.
Quản trị doanh nghiệp rất quan trọng trong việc cố gắng cải thiện các quy trình mà các công ty sử dụng để phát triển thịnh vượng 9. Khi các công ty phát triển, 8 OECD (1999,2004), Principal of Corporate Governance, Paris, OECD 9 Patfield FM, The Response to the Report of the Committee on the Financial Aspects of Corporate Governance” in Patfield FM, Perspective on Company Law: 1 (Kluwer Law, 1995), trang 25 Luận văn Thạc sỹ Pháp luật doanh nghiệp 8 thì theo đó nền kinh kế và quốc gia cũng phát triển. Hiện tại, Việt Nam đang có những sự thay đổi rõ nét về mặt kinh tế và xã hội, nên vấn đề quản trị doanh nghiệp trở nên quan trọng hơn bao giờ. Quản lý doanh nghiệp Quản lý doanh nghiệp hay quản lý bất cứ cơ quan tổ chức nào cũng là một quá trình phức tạp và quan trọng ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của tổ chức đó.
Có thể hiểu đơn giản quản lý doanh nghiệp là quá trình làm việc cùng với và thông qua các cá nhân, các nhóm và các nguồn lực khác (thiết bị, vốn, công nghệ) để đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp đó10. Theo cách hiểu đơn giản nhất, quản lý công ty (doanh nghiệp) là một quá trình người quản lý thực hiện các giai đoạn từ khâu lập kế hoạch, thực thi kế hoạch, kiểm tra kế hoạch, cho đến đánh giá kế hoạch hoạt động của công ty. Người quản lý Dưới góc độ quản trị, người quản lý hay còn gọi là nhà quản trị là người điều khiển và có trách nhiệm trông coi, kiểm soát công việc của những người khác11. Hoặc có thể hiểu, nhà quản trị là những người đứng đầu một tổ chức hoặc những bộ phận khác trong tổ chức, chi phối hoạt động của những người dưới quyền bằng các chức năng quản trị, được thể hiện thông qua các quyết định, để thực hiện công việc quản trị trong một tổ chức12.
Định nghĩa NQLDN theo pháp luật các nước 10 “Tìm hiểu: Quản lý doanh nghiệp là gì?”, website: nguồn từ http://www.vn 11 Quỳnh Hân, Minh Bùi, “Nhà quản lý, ông là ai?”, nguồn từ htpp://www.com 12 Phan Thị Ngọc Thuận (2005), Quản trị học đại cương, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, trang 8 Luận văn Thạc sỹ Pháp luật doanh nghiệp 9 Công ty/doanh nghiệp với tư cách là một pháp nhân – một thực thể pháp lý độc lập, tự bản thân nó không thể hành động cho chính mình mà chỉ có thể hành động thông qua con người cụ thể-những người quản lý công ty13. Xác định đúng ai là NQLDN và áp đặt hợp lý các nghĩa vụ pháp lý cho họ sẽ góp phần cho quản trị công ty (corporate governance) có hiệu quả, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của cổ đông cũng như các bên liên quan khác như chủ nợ, người lao động và khách hàng của công ty14. Định nghĩa/khái niệm về NQLDN hoặc giám đốc (director) được quy định khác nhau trong hệ thống pháp luật các quốc gia trên thế giới. Theo luật Việt Nam Luật Doanh nghiệp 2014 không đưa ra định nghĩa về NQLDN, mà chỉ đưa ra khái niệm “NQLDN là người quản lý công ty và là người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty15”.
Theo khái niệm nêu trên, thì một cá nhân được xem là NQLDN cần đáp ứng hai điều kiện cơ bản là (i) giữ chức danh quản lý trong doanh nghiệp và/hoặc (ii) có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch (hợp đồng) theo quy định tại điều lệ công ty16. 13 Bùi Xuân Hải, Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam, Khoa học pháp lý, Đại học Luật TP.HCM,số 4(41), 2007, trang 21. 14 Bùi Xuân Hải, Người quản lý công ty theo luật doanh nghiệp 1999 – Nhìn từ góc độ luật so sánh, Tạp chí khoa học pháp lý, Đại học luật TP.HCM, số 04(29), 2005, trang 14 15 Điều 4.18 – Luật Doanh nghiệp 2014 16 Trương Nhật Quang (2016), Pháp luật về doanh nghiệp các vấn đề pháp lý cơ bản, NXB Dân trí, trang 350. Luận văn Thạc sỹ Pháp luật doanh nghiệp 10 Như vậy, ngoài các chức danh quản lý như được liệt kê tại Điều 4.18 Luật Doanh nghiệp 2014 sẽ được mặc nhiên xem là NQLDN, thì các chức danh quản lý khác được điều lệ quy định là có thẩm quyền nhân danh công ty để ký kết hợp đồng, giao dịch của công ty thì đều là NQLDN.
Có thể nói rằng, pháp luật Việt Nam xác định một cá nhân có phải là NQLDN hay không dựa vào chức danh và thẩm quyền ký kết hợp đồng của họ trong công ty. Vậy, pháp luật các nước phát triển có cách tiếp cận khác để xác định ai là NQLDN hay không? 1. Theo pháp luật Úc Điều 9, Đạo luật công ty Úc 2001 quy định: giám đốc nghĩa là (i) một người được bổ nhiệm hợp lệ là giám đốc hoặc giám đốc luân phiên, (ii) một người, mặc dù không được bổ nhiệm là giám đốc, nhưng người đó hành động trong vị trí của một giám đốc (giám đốc thực tế - ‘de facto’ director); (iii) một người, mặc dù không được bổ nhiệm hợp lệ là giám đốc, nhưng các giám đốc đều quen với việc hành động theo sự chỉ thị hoặc theo mong muốn của người này17 (giám đốc giấu mặt – ‘shadow’ director)18. Như vậy, luật của Úc không liệt kê các chức danh quản lý nào sẽ được xem là giám đốc/NQLDN như Việt Nam, mà đưa ra định nghĩa về vai trò và công việc của một người để xác định ai là giám đốc/NQLDN.
17 Ghi chú: Đạo luật Công ty Úc loại trừ việc giám đốc hoặc các giám đốc làm theo lời khuyên của những chuyên gia tư vấn. 18 Dịch từ Điều 9, Corporations Act 2001 (Australia), như sau: director of a company or other body means (a) a person who: (i) is appointed to the position of a director; or (ii) is appointed to the position of an alternate director and is acting in that capacity; regardless of the name that is given to their position; and (b) unless the contrary intention appears, a person who is not validly appointed as a director if: (i) they act in the position of a director; or (ii) the directors of the company or body are accustomed to act in accordance with the person’s instructions or wishes. Luận văn Thạc sỹ Pháp luật doanh nghiệp 11 1.3 Theo pháp luật Singapore Tương tự như pháp luật Úc, Điều 4, Luật Công ty Singapore 2006 quy định: giám đốc bao gồm bất kỳ người nào nắm giữ vị trí giám đốc một công ty dù dưới bất kỳ chức danh gì, và bao gồm người mà những chỉ đạo hoặc chỉ thị của người này19, các giám đốc hoặc đa số các giám đốc của công ty phải làm theo và giám đốc luân phiên hoặc giám đốc thay thế20. Giám đốc luân phiên hoặc giám đốc thay thế (alternate director/substitute director) là một giám đốc tạm thời có thể thay thế cho một giám đốc hiện tại trong một cuộc họp của ban giám đốc, miễn là điều lệ công ty cho phép sự sắp xếp này và các giám đốc được chọn khác của công ty không có ý kiến phản đối21.
Theo pháp luật Trung Quốc Luật Công ty Trung Quốc 2014 không đưa ra định nghĩa về NQLDN, giám đốc (tổng giám đốc), mà chỉ đề cập đến người đại diện theo pháp luật của công ty. Điều 13, Luật công ty 2014 của Trung Quốc quy định: “người đại diện theo pháp luật của công ty sẽ, theo điều lệ công ty, được thừa nhận là chủ tịch hội đồng quản trị (hội đồng các giám đốc), giám đốc điều hành hoặc một quản lư, và sẽ được đăng kư phù hợp với quy định của pháp luật. Việc thay đổi người đại diện theo pháp luật sẽ phải làm thủ tục đăng ký thay đổi22. 19 Ghi chú: Luật Singapore loại trừ việc giám đốc hoặc các giám đốc làm theo lời khuyên của những chuyên gia tư vấn.
20 Dịch từ Điều 9, Companies Act 2006 (Singapore), như sau: “director” includes any person occupying the position of director of a corporation by whatever name called and includes a person in accordance with whose directions or instructions the directors or the majority of the directors of a corporation are accustomed to act and an alternate or substitute director; 21 Được dịch từ định nghĩa Alternate director, http://www.com, như sau: “a temporary director who can represent and elected director at a meeting of the board of directors, provided the article of association (or bylaws) of the firm allow for such arrangement, and the other elected directors of the firm do not object”. 22 Dịch từ Điều 13, Company Law of the People’s Republic of China (2014), như sau: “The legal representative of a company shall, pursuant to the company’s articles of association, be assumed by the chairman of the board of directors, an executive director or a manager, and shall be registered Luận văn Thạc sỹ Pháp luật doanh nghiệp 12 1. Nhận xét Như vậy, có sự khác biệt rất lớn về yếu tố để xác định một người có phải là NQLDN hay không giữa Luật Doanh nghiệp 2014 và luật của các quốc gia khác.