CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN (CSKT) Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 29 [1] thì thuật ngữ "Chính sách kế toán được định nghĩa là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được công ty áp dụng trong việc lập và trình bày Báo cáo tài chính". CSKT của doanh nghiệp được phân thành nhiều loại như CSKT về doanh thu, về tài sản cố định (TSCĐ), về hàng tồn kho (HTK), về các khoản phải thu, về các khoản phải trả, về chi phí đi vay, về lợi thế thương mại, về giao dịch bằng ngoại tệ. Khi doanh nghiệp (DN) tương ứng sử dụng chế độ kế toán nào thì DN đó sẽ có CSKT quy định chi tiết việc ứng dụng chế độ kế toán như thế nào như việc lựa chọn hình thức kế toán áp dụng (Nhật ký chung, Chứng từ ghi số, Nhật ký -chứng từ.); lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho, phương pháp khấu hao tài sản cố định. phù hợp với chế độ áp dụng.
Lựa chọn CSKT là việc chọn lựa có cân nhắc nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán về các nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp kế toán mà DN có thể áp dụng trong những trường hợp khác nhau nhằm phục vụ cho mục đích chủ quan của nhà quản trị. CSKT áp dụng ở mỗi DN được chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán cho phép lựa chọn phù hợp với đặc điểm kinh doanh của DN đó. Tuy nhiên, việc áp dụng các CSKT khác nhau sẽ mang lại các thông tin, số liệu khác nhau được trình bày trên Báo cáo tài chính (BCTC). Do đó, bên cạnh việc lựa chọn CSKT tuân thủ theo chuẩn mực, chế độ kế toán; DN còn phải lựa chọn CSKT có thể giúp họ quản trị lợi nhuận, mang lại những thông tin có lợi nhất cho mình, đặc biệt là ở các DN cổ phần có niêm yết, khi mà thông tin BCTC của họ được công bố công khai trên sàn giao dịch chứng khoán cho mọi đối tượng sử dụng.2 VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN Trong nền kinh tế thị trường ngày càng đổi mới và xu thế cạnh tranh lành mạnh giữa các DN ngày càng gia tăng, giá cả đóng một vai trò quan trọng cốt lõi, quyết định “số phận” của sản phẩm, hàng hóa dịch vụ và lợi nhuận của DN.
Mỗi DN sẽ có nhiều chiến lược kinh doanh và các nguồn thông tin tài chính khác nhau nhằm thu hút vốn đầu tư bên ngoài, mà các thông tin tài chính này do kế toán cung cấp. Chính vì vậy, thông tin kế toán ngày càng phát huy tính hữu hiệu trong việc ra quyết định của các đối tượng có liên quan và BCTC là công cụ thể hiện rõ nhất thông tin này. Việc áp dụng các CSKT khác nhau sẽ mang lại những thông tin khác nhau trình bày trên BCTC; do đó DN phải xem xét và cân nhắc kỹ lưỡng khi tiến hành lựa chọn một CSKT. Mặt khác, CSKT đóng vai trò vô cùng quan trọng và thiết thực đối với công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh trong DN.
CSKT đúng đắn, hợp lý là cơ sở để kế toán viên thực hiện các công việc đo lường và công bố thông tin kế toán phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của từng đơn vị và theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn như các CSKT về HTK, về TSCĐ hợp lý sẽ giúp cho công tác kế toán nắm bắt rõ ràng giá trị thực tế của HTK, TSCĐ; đảm bảo yêu cầu cung cấp chính xác số liệu HTK, TSCĐ mọi lúc mọi nơi phục vụ nhu cầu quản trị nội bộ DN và công tác thanh tra, kiểm tra kế toán của các cơ quan quản lý chức năng. Bên cạnh đó, giúp cho ban lãnh đạo doanh nghiệp kịp thời điều chỉnh giá cả phù hợp với nhu cầu giá thị trường và cạnh tranh về giá với các DN hoạt động trong ngành; có chính sách trích lập dự phòng giảm giá HTK đúng đắn, chính sách sửa chữa TSCĐ thích hợp; tránh những tổn thất cho DN do việc trích lập dự phòng giảm giá HTK hay chi phí sửa chữa TSCĐ quá ít hoặc quá nhiều; từ đó có kế hoạch sản xuất, mua sắm hay dự trữ lượng HTK, TSCĐ thích hợp; đảm bảo cho hoạt động kinh doanh xảy ra liên tục, thường xuyên và ổn định. Từ Luan van 12 đó mang lại lợi nhuận tốt, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cao cho DN.
Ngoài ra, CSKT là phương tiện để kiểm soát hoạt động của DN bằng những mong muốn điều chỉnh lợi nhuận. Từ đó các nhà quản trị có thể định hướng hoạt động, đưa ra các phương thức nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, có chính sách tài trợ phù hợp, lập kế hoạch rõ ràng cho các hoạt động của DN. CSKT là một trong những yếu tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển để từ đó DN tiến tới tối đa hóa lợi nhuận và khẳng định vị thế thương hiệu của mình trên thị trường. Đối với cơ quan Thuế thì thông qua CSKT đã công bố của DN; là cơ sở để kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý trong các quy định kế toán; đối chiếu với các quy định của Thuế để có những điều chỉnh, kiểm tra việc chấp hành các chế độ kế toán và xác định đúng đắn các khoản nghĩa vụ của DN phải thực hiện đối với Nhà nước.3 VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Các khía cạnh của việc vận dụng chính sách kế toán trong doanh nghiệp Thứ nhất, việc vận dụng CSKT trong DN phải thể hiện tính hiệu quả [10]; tức là phải phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của DN và phản ánh được thực trạng kinh doanh, sản xuất của DN, từ đó phản ánh thực tế hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Chẳng hạn như đối với các phương pháp tính giá hàng xuất kho, phương pháp giá thực tế đích danh cho kết quả chính xác nhất so với các phương pháp khác, đảm bảo giá trị HTK được đánh giá đúng theo giá trị thực tế của nó. Tuy nhiên phương pháp này làm cho giá trị HTK không sát với giá cả biến động trên thị trường nên nó chỉ phù hợp với các DN kinh doanh ít mặt hàng, ít chủng loại vật tư, hàng hóa, có thể phân biệt, chia tách thành nhiều thứ riêng rẽ, có mặt hàng ổn định và nhận diện được, đơn giá HTK có giá trị cao. Phương pháp bình quân gia quyền thì khá đơn giản, dễ làm, thuận tiện cho kế toán. Tuy nhiên phương pháp này cho độ Luan van 13 chính xác không cao và khối lượng công việc dồn vào cuối kỳ.
Do đó, phương pháp này được áp dụng cho đa số các DN có quy mô nhỏ; ít chủng loại vật tư, hàng hóa; thời gian sử dụng ngắn và số lần nhập xuất mỗi danh điểm hàng hóa tương đối nhiều. Còn phương pháp FIFO thì giúp chúng ta có thể tính được ngay trị giá vốn hàng xuất kho sau từng lần xuất hàng; đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cung cấp số liệu cho nhà quản lý DN. Trị giá vốn HTK sẽ tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó. Vì vậy chỉ tiêu HTK trên BCTC có ý nghĩa thực tế hơn.
Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là giá xuất kho được xác định theo đơn giá của lô vật tư, hàng hóa nhập sớm nhất nên không phản ánh sự biến động của giá trị hàng hóa một cách kịp thời. Phương pháp này làm cho doanh thu kỳ hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí trong kỳ hiện tại; do doanh thu kỳ hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hóa đã có được từ cách đó rất lâu. Đồng thời, nếu số lượng chủng loại hàng hóa nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên rất nhiều. Vì vậy, phương pháp này chỉ ap dụng cho những DN có chủng loại vật tư, hàng hóa có liên quan đến thời hạn sử dụng.
Phương pháp này thích hợp trong các trường hợp giá cả ổn định hoặc giá có xu hướng giảm (xu hướng giảm phát) để xuất đi lượng vật tư, hàng hóa có giá trị lớn hơn và hàng tồn kho trong kì có giá trị nhỏ nhất. Thứ hai, dựa trên khía cạnh cơ hội thì việc lựa chọn CSKT phải đáp ứng được mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu về thuế thu nhập doanh nghiệp trong chính sách quản trị của DN. Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế có hiệu quả nhất, là chỉ tiêu phản ánh trình độ quản lý sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn, trình độ tổ chức sản xuất sản phẩm. Lợi nhuận tác động đến tất cả các mặt hoạt động của DN, quyết định sự tồn tại hay phá sản của DN.
Việc thực hiện được chỉ Luan van 14 tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của DN được vững chắc, ổn định. Do đó các CSKT phải đảm bảo đạt được mục tiêu lợi nhuận trong DN. Bên cạnh đó, mục tiêu về thuế thu nhập doanh nghiệp ảnh hưởng rất nhiều đến việc lựa chọn CSKT trong DN. Nếu mức thuế suất của thuế thu nhập doanh nghiệp thay đổi thì các DN có xu hướng vận dụng các CSKT sao cho mức thuế suất phải nộp là ít nhất, hoặc nếu mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp không thay đổi thì các DN cũng sẽ lựa chọn các CSKT sao cho số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp hiện tại ít hơn so với tương lai để sử dụng khoản thuế chậm nộp đầu tư vào các nhu cầu khác của DN.
Tùy thuộc vào mục tiêu điều chỉnh tăng hay giảm lợi nhuận, tăng hay giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp mà kế toán sẽ lựa chọn các CSKT thích hợp để điều chỉnh lợi nhuận, điều chỉnh mức thuế phải nộp cho Nhà nước theo yêu cầu của nhà quản trị doanh nghiệp. Chẳng hạn như khi kế toán lựa chọn các CSKT về HTK, chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho là nhập trước xuất trước (FIFO) thì lượng HTK trình bày trên Bảng cân đối kế toán sẽ có giá trị cao nhất so với áp dụng các phương pháp khác (bình quân gia quyền.) do số lượng hàng tồn tính theo giá của lần mua gần nhất, tức là phản ánh gần sát với giá thị trường. Khi đó, giá vốn hàng bán trình bày trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh lại có giá trị thấp nhất so với áp dụng các phương pháp khác (bình quân gia quyền.