Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước Cách mạng tháng Tám năm 1945" do nghiên cứu sinh Đặng Thị Vân Chi thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Đỗ Quang Hưng. Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại, mã số đào tạo 62 22 54 05, được bảo vệ năm 2007.

Về tính cấp thiết, phụ nữ chiếm một nửa lực lượng xã hội và giữ vai trò quan trọng trong tiến trình lịch sử nhân loại cũng như lịch sử dân tộc Việt Nam. Dưới chế độ phong kiến lâu dài, phụ nữ Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của hệ tư tưởng Nho giáo nên chưa được đánh giá đúng mức và chưa được hưởng các quyền lợi tương xứng. Khi thực dân Pháp thiết lập ách thống trị từ cuối thế kỷ XIX, phụ nữ tiếp tục chịu tầng lớp áp bức, bóc lột của chế độ thuộc địa nửa phong kiến. Trước yêu cầu của thời đại, giải phóng phụ nữ trở thành một nhiệm vụ cấp thiết gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Sự du nhập của các trào lưu tư tưởng dân chủ phương Tây cùng sự hình thành tầng lớp tiểu tư sản thành thị đầu thế kỷ XX đã làm nảy sinh "vấn đề phụ nữ". Báo chí chữ quốc ngữ xuất hiện trong giai đoạn này đã trở thành phương tiện phản ánh và định hình các cuộc thảo luận về nữ quyền, bình đẳng nam nữ và giải phóng phụ nữ. Về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu các cuộc thảo luận này giúp làm rõ nền tảng lịch sử - tư tưởng của quá trình thực hiện bình đẳng giới tại Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu lịch sử phong trào phụ nữ hoặc khảo sát một vài cơ quan ngôn luận riêng lẻ, song chưa có một công trình chuyên khảo nào dựng lại toàn diện quá trình tiến triển nhận thức về vấn đề phụ nữ trên toàn bộ hệ thống báo chí tiếng Việt trong suốt gần nửa thế kỷ (từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án bao gồm:

  1. Làm rõ bối cảnh và quá trình hình thành "vấn đề phụ nữ" trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam.
  2. Tái hiện quá trình chuyển biến nhận thức của xã hội và sự tự nhận thức của bản thân phụ nữ về vai trò, địa vị, quyền bình đẳng và con đường giải phóng phụ nữ qua các thời kỳ lịch sử.
  3. Khảo sát cuộc đấu tranh tư tưởng giữa các khuynh hướng nữ quyền khác nhau (tiêu biểu là khuynh hướng nữ quyền tư sản và khuynh hướng nữ quyền mác-xít) trên báo chí hợp pháp và báo chí cách mạng.
  4. Đánh giá vai trò của báo chí tiếng Việt và tầng lớp nữ trí thức trong phong trào phụ nữ gắn liền với phong trào giải phóng dân tộc.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các bài viết chính luận, bài xã luận, tranh luận học thuật, tin tức xã hội phản ánh nhận thức và đời sống của phụ nữ trên báo chí tiếng Việt; cùng một số sáng tác văn học tiêu biểu thuộc khuynh hướng vận động giải phóng phụ nữ của nhóm Tự lực văn đoàn.
  • Phạm vi không gian: Không gian báo chí và đời sống xã hội Việt Nam ở cả ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ).
  • Phạm vi thời gian: Từ đầu thế kỷ XX (thời điểm báo chí tiếng Việt bắt đầu phát triển) đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 (thời điểm khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra bước ngoặt công nhận quyền bình đẳng nam nữ trên phương diện pháp lý qua bản Hiến pháp năm 1946).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu liên quan theo các nhóm:

Các tác phẩm và bài viết trước năm 1945:

  • Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ những năm 1920 qua tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, các bài viết trên báo Người cùng khổ (Le Paria), báo Thanh niên (Nỗi khổ nhục của người đàn bà bản xứ, Phụ nữ An Nam và sự đô hộ của Pháp...) đã chỉ rõ thân phận bị áp bức của phụ nữ thuộc địa và bước đầu gắn phong trào giải phóng phụ nữ với giải phóng dân tộc.
  • Đặng Văn Bẩy với cuốn sách Nam nữ bình quyền (Sài Gòn, 1928) khẳng định quyền bình đẳng là hợp tự nhiên, phê phán tư tưởng "chồng chúa vợ tôi", cổ vũ giáo dục nữ giới và hôn nhân tự do.
  • Phan Bội Châu với cuốn Vấn đề phụ nữ (Duy Tân thư xã, Huế, 1929) lý giải nguồn gốc lịch sử của sự áp bức phụ nữ, gắn nữ quyền với dân quyền và đề xuất lập hội phụ nữ.
  • Các bài khảo cứu trên báo chí công khai của Phan Khôi, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Hải Trân, Đỗ Thiện, Hoàng Ngọc Phách khảo sát địa vị phụ nữ qua tục ngữ, ca dao và luật pháp phong kiến.
  • Trần Thiện Tỵ và Bùi Thế Phúc với cuốn Vấn đề phụ nữ ở Việt Nam (1932) so sánh địa vị phụ nữ Đông - Tây, ủng hộ giáo dục nhưng giữ quan điểm bảo thủ đối với việc phụ nữ tham gia nghề nghiệp xã hội.
  • Cựu Kim Sơn và Văn Huệ với hai tập sách Đời chị em và Chị em phải làm gì (1938) trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ, phân tích tình cảnh phụ nữ lao động, phê phán nữ quyền tư sản và chỉ ra con đường giải phóng phụ nữ gắn với phong trào dân tộc.
  • Nguyễn Thị Kim Anh với tập sách Vấn đề phụ nữ (1938) truyền bá quan điểm Mác - Lênin về vấn đề phụ nữ và phong trào Xô Viết.

Các công trình nghiên cứu từ sau năm 1954 đến nay:

  • Các công trình lịch sử tiêu biểu như Truyền thống phụ nữ Việt Nam (1972) của Trần Quốc Vượng, Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại (1973) của Lê Thị Nhâm Tuyết, và bộ sách Lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam (1981) do Nguyễn Thị Thập chủ biên.
  • Các nghiên cứu chuyên sâu của Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ (sau là Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới) công bố trên tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới.
  • Công trình của các học giả nước ngoài: David Marr với bài viết The 1920s women’s rights debates in Vietnam (1976) và chương 5 cuốn Vietnamese Tradition on Trial 1920-1945 phân tích sự xuất hiện của "vấn đề phụ nữ" và các tờ báo Nữ giới chung, Phụ nữ tân văn; Shawn McHale với bài nghiên cứu Printing and power: Vietnamese Debates over Women’s Place in Society, 1918-1934 (Đại học Cornell, 1995).
  • Các công bố của tác giả luận án: Luận văn thạc sĩ (1997) khảo sát vấn đề phụ nữ qua các tờ báo Đăng cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Nam phong, Nữ giới chung, Phụ nữ tân văn; bài tham luận tại Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học lần thứ nhất (1998).

Vị trí của luận án: Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó nhưng khắc phục hạn chế về phạm vi tư liệu hẹp của các học giả quốc tế, luận án mở rộng khảo sát trên quy mô 102 tờ báo tiếng Việt nhằm phục dựng một bức tranh toàn diện và có hệ thống về sự tiến triển tư tưởng nữ quyền tại Việt Nam trước năm 1945.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  • Luận án dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phụ nữ, giai cấp và giải phóng dân tộc; các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác vận động phụ nữ.
  • Luận án tổng thuật và vận dụng khung lý thuyết về các trào lưu nữ quyền quốc tế:
    • Thuyết nữ quyền tự do (Liberal Feminism): Khởi xướng từ Mary Wollstonecraft (A Vindication of the Rights of Woman, 1792), phát triển qua John Stuart Mill và Harriet Taylor Mill (The Subjection of Women, 1869); nhấn mạnh sự giải phóng qua ba giai đoạn: kinh tế (việc làm), trí tuệ (giáo dục bình đẳng bắt buộc) và chính trị (quyền bầu cử, ứng cử).
    • Thuyết nữ quyền xã hội chủ nghĩa (Socialist Feminism): Bắt nguồn từ các nhà tư tưởng tiền Mác-xít như Saint-Simon, Charles Fourier, Robert Owen, William Thompson và sau đó là Charlotte Perkins Gilman; phê phán chế độ tư hữu, chủ trương xã hội hóa và chuyên môn hóa công việc gia đình, gắn giải phóng phụ nữ với sự thay đổi cấu trúc kinh tế - xã hội.
    • Thuyết nữ quyền Mác-xít (Marxist Feminism): Xác định nguồn gốc áp bức phụ nữ gắn liền với sự xuất hiện của chế độ tư hữu và phân chia giai cấp; khẳng định giải phóng phụ nữ chỉ có thể hoàn thành triệt để thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thủ tiêu chế độ người bóc lột người.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu giới (Gender Studies) và nghiên cứu báo chí - truyền thông.
  • Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Đặt tư liệu báo chí vào bối cảnh lịch sử cụ thể, kết hợp trục lịch đại (tiến trình phát triển thời gian) và đồng đại (so sánh các quan điểm cùng thời kỳ).
  • Phương pháp phân tích văn bản và so sánh: Phân tích nội dung các bài xã luận, tiểu luận, tin tức, mục văn uyển, tạp trở trên các tờ báo khác nhau để chỉ ra khuynh hướng tư tưởng của từng cơ quan ngôn luận.
  • Phương pháp thống kê nội dung: Thống kê tần suất bài viết, phân loại chủ đề xã luận trên các tờ báo lưu trữ đầy đủ (Đăng cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Nam phong...).
  • Phương pháp phân tích bối cảnh: Đối chiếu nội dung mặt báo với hoàn cảnh xuất thân của tác giả, tầng lớp xã hội và các điều kiện chính trị chi phối tờ báo.

Nguồn tư liệu

  • Khảo sát trực tiếp 102 đầu báo và tạp chí tiếng Việt xuất bản trước năm 1945 hiện lưu trữ tại các thư viện ở Việt Nam (tiêu biểu như Nông cổ mín đàm, Đăng cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Nam phong, Nữ giới chung, Công luận, Thực nghiệp dân báo, Khai hóa nhật báo, Hữu thanh, Đông Pháp thời báo, Trung Bắc tân văn, Hà thành ngọ báo, Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm, Phong hóa, Phụ nữ tân tiến, Đàn bà mới, Dân chúng, Cứu quốc, Việt Nam độc lập...).
  • Nguồn hồi ký của các nhà văn, nhà báo đương thời (Vũ Bằng, Nguyễn Văn Trấn, Tô Hoài, Trần Huy Liệu, Thanh Nghị, Trần Thị Như Mân, Anh Thơ, Tùng Long...) và các nữ chiến sĩ cách mạng (Nguyễn Thị Lựu, Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt, Tôn Thị Quế, Đường Thị Ân, Trương Thị Mỹ...).
  • Các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Đông Dương và Niên biểu thống kê Đông Dương thời Pháp thuộc.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Bối cảnh xuất hiện “Vấn đề phụ nữ” trong xã hội Việt Nam

Chương này luận giải các tiền đề lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa dẫn đến sự hình thành "vấn đề phụ nữ" tại Việt Nam đầu thế kỷ XX:

  1. Vai trò và địa vị phụ nữ trong xã hội truyền thống: Luận án phân tích tác động của nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, công tác đắp đê trị thủy và các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm lâu dài đã buộc người phụ nữ Việt Nam phải gánh vác trách nhiệm kinh tế và quản lý gia đình khi nam giới vắng nhà. Sự đảm đang này được phản ánh qua ca dao, tục ngữ và ghi nhận của các giáo sĩ, thương nhân phương Tây thế kỷ XVII - XVIII (như Jean Koffler). Về mặt luật pháp phong kiến, Bộ luật Hồng Đức (thế kỷ XV) vẫn bảo lưu các tập quán tôn trọng quyền sở hữu tài sản và quyền lợi của phụ nữ trong hôn nhân. Tuy nhiên, việc nhà Nguyễn (thế kỷ XIX) đề cao Nho giáo độc tôn và áp dụng Bộ luật Gia Long (chịu ảnh hưởng luật nhà Thanh) đã áp đặt nghiêm ngặt "Tam cương", "Tam tòng", "Tứ đức" (theo sách Nữ giới của Ban Chiêu), tước bỏ nhiều quyền lợi kinh tế - xã hội của phụ nữ, đẩy họ vào thân phận phụ thuộc.

  2. Những điều kiện mới của thời kỳ thuộc địa: Các chương trình khai thác thuộc địa của Pháp (lần 1: 1897–1914; lần 2: 1919–1930) làm biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội. Đến năm 1930, tư bản Pháp đầu tư khoảng 4 tỷ Francs vào 535 công ty; mạng lưới hạ tầng phát triển với 30.000 km đường bộ, 2.400 km đường sắt và 14.000 km đường dây điện thoại. Hệ thống giáo dục Pháp - Việt từng bước thay thế khoa cử Nho học (bãi bỏ thi Hương ở Bắc Kỳ năm 1915, Trung Kỳ năm 1919). Sự xuất hiện của các trường nữ học như trường Brieux/Hàng Cót tại Hà Nội (1908), trường Nữ sinh Áo Tím tại Sài Gòn (1915), trường Nữ học Đồng Khánh tại Huế (1917) đã tạo ra tầng lớp nữ sinh tân học.

  3. Ảnh hưởng tư tưởng quốc tế và sự phân hóa đời sống phụ nữ: Phong trào nữ quyền phương Tây, Cách mạng tháng Mười Nga (1917), phong trào phụ nữ tại Anh, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc (Thái Bình Thiên Quốc), Thổ Nhĩ Kỳ, cùng các hội nghị phụ nữ thế giới (London 1929) và châu Á (Laho 1931) đã dội vào Việt Nam. Trong nước, phụ nữ lao động bị bóc lột nặng nề:

Bảng 1: Tỷ lệ công nhân nữ

Năm Tổng số công nhân Nữ công nhân Tỷ lệ
1908 15.500 - 45%

Bảng 2: Tỷ lệ công nhân nữ ở Nhà máy dệt Nam Định

Năm Tổng số công nhân Nữ công nhân Tỷ lệ
1907 1.000 660 66%
1917 14.000 - 71%

(Tại mỏ than Hòn Gai, nữ công nhân chiếm 13,6% năm 1939 và 20,2% năm 1940)

Bảng 3: Tỷ lệ tiền công giữa nữ và nam

Năm Ngày công nam Ngày công nữ Tỉ lệ (Nữ/Nam)
1914 28 xu 20 xu 71,43%
1920 31 xu 23 xu 74,19%
1926 38 xu 26 xu 68,42%
1931 36 xu 20 xu 55,55%
1932 31 xu 22 xu 70,96%
1934 29 xu 20 xu 68,96%

Bảng 4: Tỷ lệ tiền lương của giáo viên nữ so với giáo viên nam (năm 1918)

Cấp học Bậc lương Lương giáo viên nam Lương giáo viên nữ Tỷ lệ (Nữ/Nam)
Giáo viên trung học Loại cao nhất 2.000 đ 1.600 đ 80,00%
Loại vừa 1.400 đ 1.080 đ 77,14%
Loại thấp nhất 1.100 đ 720 đ 65,45%
Thí sai 1.000 đ 600 đ 60,00%
Giáo viên tiểu học Loại cao nhất 1.500 đ 1.200 đ 80,00%
Loại vừa 780 đ 720 đ 92,30%
Loại thấp nhất 360 đ 300 đ 83,33%
Thí sai 300 đ 240 đ 80,00%

Sự bất bình đẳng sâu sắc này, cùng với sự xung đột giữa lối sống mới và lễ giáo phong kiến cũ, đã chính thức đưa "vấn đề phụ nữ" trở thành một đề tài xã hội công khai.

Chương 2: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt từ đầu thế kỷ XX đến năm 1929

Chương 2 trình bày giai đoạn đầu của cuộc vận động trên báo chí:

  1. Giai đoạn đầu thế kỷ XX và tờ báo Nữ giới chung (1918): Vấn đề phụ nữ ban đầu xuất hiện rải rác trên các tờ báo như Nông cổ mín đàm, Đăng cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Nam phong. Năm 1918, tờ báo chuyên biệt dành cho phụ nữ đầu tiên bằng chữ quốc ngữ ra đời tại Sài Gòn là tờ Nữ giới chung do nữ sĩ Sương Nguyệt Anh làm chủ bút. Tờ báo đánh dấu bước chuyển từ việc nam giới bàn luận về phụ nữ sang việc phụ nữ tự lên tiếng nhận thức về địa vị, bổn phận và quyền lợi của giới mình.

  2. Bùng nổ các diễn đàn phụ nữ từ sau Thế chiến I đến năm 1929: Báo chí giai đoạn này hình thành các chuyên mục phụ nữ thường kỳ trên các tờ nhật báo và tuần báo. Các chủ đề thảo luận tập trung vào:

  • Đánh giá lại vai trò và địa vị của phụ nữ trong gia đình và xã hội.
  • Tiếp nhận khái niệm nữ quyền và đấu tranh cho bình đẳng nam nữ.
  • Đòi quyền bình đẳng trong giáo dục, mở rộng trường học cho nữ giới, phê phán các định kiến ngăn cản phụ nữ học tập.
  • Đòi quyền tự do kết hôn, lên án nạn tảo hôn, tục đa thê và quan niệm phong kiến khắt khe về thủ tiết, trinh tiết.
  1. Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc: Trên báo Thanh niên (cơ quan của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên) và báo Thân ái, Nguyễn Ái Quốc đã truyền bá quan điểm cách mạng vô sản về vấn đề phụ nữ, phê phán sự áp bức kép của chủ nghĩa thực dân và phong kiến, đồng thời khẳng định muốn giải phóng phụ nữ thì phải gắn liền phong trào phụ nữ với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Chương 3: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt từ năm 1929 đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Chương 3 khảo sát giai đoạn phát triển đỉnh cao và phân hóa tư tưởng sâu sắc của vấn đề phụ nữ trên báo chí:

  1. Sự ra đời của báo Phụ nữ tân văn (1929) và dòng báo chí phụ nữ: Tờ Phụ nữ tân văn xuất bản tại Sài Gòn năm 1929 đã tạo nên tiếng vang lớn, thu hút đông đảo trí thức tham gia thảo luận. Tiếp theo đó, hàng loạt tờ nữ báo ra đời ở cả ba kỳ như Phụ nữ thời đàm, Phụ nữ tân tiến, Đàn bà mới, Đàn bà, Việt nữ, Hạnh phúc... tạo thành một dòng báo chí phụ nữ chuyên nghiệp. Luận án đã lập Bảng số 5: Tóm tắt mục đích tôn chỉ của các tờ nữ báo (trang 116 của luận án) để phân tích sự chuyển biến trong định hướng của từng cơ quan ngôn luận.

  2. Vấn đề phụ nữ trên báo chí hợp pháp:

  • Thể hiện sự đối thoại và tranh luận giữa các khuynh hướng: khuynh hướng bảo thủ muốn duy trì khuôn mẫu đạo đức truyền thống; khuynh hướng nữ quyền tư sản cổ vũ giải phóng cá nhân, tự do luyến ái, bình đẳng về quyền dân sự nhưng không đụng chạm đến nguồn gốc áp bức xã hội; và khuynh hướng cấp tiến chịu ảnh hưởng của quan điểm Mác-xít.
  • Phản ánh mối quan hệ giữa phụ nữ với văn học nghệ thuật, đặc biệt là các sáng tác của Tự lực văn đoàn trên báo Phong hóa, Ngày nay trong việc phê phán đại gia đình phong kiến, giải phóng cá tính người phụ nữ.
  • Trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ hai (1939–1945), báo chí hợp pháp xuất hiện các khuynh hướng mới trước tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội và chính sách thời chiến của chính quyền thực dân.
  1. Vấn đề phụ nữ trên báo chí cách mạng:
  • Trong thời kỳ vận động dân chủ (1936–1939), Đảng Cộng sản Đông Dương sử dụng báo chí công khai (như báo Dân chúng) để tuyên truyền, tổ chức và hướng dẫn phụ nữ tham gia phong trào đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ, cải thiện tiền lương, chế độ nghỉ thai sản và bảo vệ quyền lợi nữ công nhân, nông dân.
  • Trong thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền (1939–1945), các tờ báo bí mật của Mặt trận Việt Minh và Đảng như Cứu quốc, Việt Nam độc lập, Giải phóng đã đẩy mạnh tuyên truyền đường lối giải phóng dân tộc, khẳng định phụ nữ là lực lượng nòng cốt trong Mặt trận Cứu quốc, chuẩn bị tiến tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Kết quả và những đóng góp mới

Căn cứ vào phần công bố của tác giả, luận án mang lại các kết quả và đóng góp mới sau:

  1. Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống đề tài "Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước Cách mạng tháng Tám năm 1945".
  2. Làm rõ quá trình hình thành, nội dung và thực chất của "vấn đề phụ nữ" trong bối cảnh xã hội thuộc địa nửa phong kiến dưới tác động của chính sách cai trị của Pháp và sự tiếp biến văn hóa Đông - Tây.
  3. Dựng lại tiến trình chuyển biến nhận thức từ thấp đến cao của xã hội và sự tự nhận thức của chính phụ nữ về vai trò, vị trí xã hội, các khái niệm dân chủ tư sản như nữ quyền, bình đẳng nam nữ và giải phóng phụ nữ.
  4. Tái hiện cụ thể cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng giữa khuynh hướng nữ quyền tư sản và khuynh hướng nữ quyền Mác-xít, qua đó làm sáng tỏ vai trò lãnh đạo và đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công tác vận động phụ nữ gắn với sự nghiệp giải phóng dân tộc.
  5. Phân tích những biến đổi trong đời sống, gia đình, tâm lý và lối sống sinh hoạt của tầng lớp tiểu tư sản thành thị và phụ nữ đô thị thời kỳ cận đại.
  6. Đánh giá đúng mức những cống hiến của tầng lớp phụ nữ trí thức trong việc sử dụng báo chí làm phương tiện khai sáng, định hướng nhận thức và thúc đẩy phong trào phụ nữ hòa vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc.
  7. Cung cấp một hệ thống tư liệu lịch sử phong phú gồm 102 tờ báo khảo sát và phần Phụ lục dài 199 trang (giới thiệu 62 tờ báo, mục lục các bài xã luận trên các tờ nữ báo và các bảng biểu thống kê), đóng góp nguồn sử liệu phục vụ công tác nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do tình trạng thất lạc và hạn chế trong công tác lưu trữ báo chí cận đại, một số tờ báo không còn giữ được trọn vẹn tất cả các số phát hành, luận án chỉ có thể tiếp cận và xử lý những tài liệu hiện còn lưu giữ tại các thư viện trong nước. Ngoài ra, về mảng văn học nghệ thuật, luận án mới chỉ tập trung khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu của nhóm Tự lực văn đoàn mà chưa thể bao quát toàn bộ các sáng tác văn học khác cùng thời.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng việc khai thác các nguồn báo chí tiếng Pháp xuất bản tại Đông Dương và nguồn lưu trữ tại nước ngoài (đặc biệt là tại Pháp); tiếp tục đi sâu nghiên cứu đời sống và phong trào của phụ nữ nông thôn – bộ phận chiếm đại đa số dân cư nhưng ít có điều kiện tiếp cận trực tiếp với báo chí chữ quốc ngữ so với phụ nữ thành thị.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam cận hiện đại, Lịch sử tư tưởng, Lịch sử báo chí truyền thông, Văn hóa học, Xã hội học và Nghiên cứu Giới.
  • Các nhà nghiên cứu lịch sử phong trào phụ nữ có thể sử dụng các số liệu thống kê chi tiết về tiền lương, tỷ lệ công nhân nữ, hệ thống trường nữ học và thư mục 62 tờ báo trong phần phụ lục.
  • Các cơ quan nghiên cứu lý luận, tổ chức Hội Phụ nữ và các nhà hoạch định chính sách về bình đẳng giới, cung cấp cơ sở lịch sử để thấu hiểu tiến trình xác lập các giá trị văn hóa và chuẩn mực giới trong xã hội Việt Nam hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. "Vấn đề phụ nữ" bắt đầu xuất hiện trong xã hội Việt Nam từ khi nào và do những yếu tố nào thúc đẩy?
"Vấn đề phụ nữ" hình thành từ đầu thế kỷ XX dưới tác động của công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp làm thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội, sự ra đời của các đô thị và tầng lớp tiểu tư sản thành thị, cùng sự du nhập của các trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây và sự xuất hiện của phương tiện báo chí chữ quốc ngữ.

2. Tờ báo phụ nữ chuyên biệt đầu tiên bằng chữ quốc ngữ tại Việt Nam là tờ báo nào?
Đó là tờ Nữ giới chung, ra đời năm 1918 tại Sài Gòn, do nữ sĩ Sương Nguyệt Anh phụ trách. Tờ báo đánh dấu sự tự nhận thức bước đầu của phụ nữ Việt Nam về các vấn đề giáo dục, đạo đức và vai trò xã hội của giới mình.

3. Tiền lương của lao động nữ so với lao động nam dưới thời Pháp thuộc có sự chênh lệch như thế nào theo số liệu của luận án?
Theo Niên biểu thống kê Đông Dương được luận án trích dẫn:

  • Tiền công của nữ công nhân chỉ dao động từ 55,55% (năm 1931: nữ 20 xu / nam 36 xu) đến 74,19% (năm 1920: nữ 23 xu / nam 31 xu) so với công nhân nam.
  • Tiền lương của giáo viên nữ (năm 1918) ở cấp trung học chỉ bằng 60% đến 80% so với giáo viên nam cùng hạng mục.

4. Luận án đã khảo sát bao nhiêu tờ báo và cấu trúc phần phụ lục như thế nào?
Tác giả đã khảo sát 102 tờ báo tiếng Việt xuất bản trước năm 1945. Luận án có phần Phụ lục dài 199 trang giới thiệu chi tiết 62 tờ báo, các chuyên mục phụ nữ, thông tin về các tờ nữ báo, thống kê các bài xã luận và tuyển chọn một số bài báo tiêu biểu.

5. Luận án phân tích sự khác biệt cốt lõi giữa khuynh hướng nữ quyền tư sản và nữ quyền Mác-xít tại Việt Nam như thế nào?
Khuynh hướng nữ quyền tư sản tập trung vào việc đòi quyền bình đẳng trong khuôn khổ pháp lý, tự do cá nhân, cải cách gia đình và giáo dục nhưng giới hạn trong tầng lớp trung lưu thành thị và không xóa bỏ nguồn gốc áp bức xã hội. Trong khi đó, khuynh hướng nữ quyền Mác-xít (do Đảng Cộng sản lãnh đạo) xác định sự áp bức phụ nữ bắt nguồn từ chế độ tư hữu và ách thống trị thực dân phong kiến, từ đó khẳng định giải phóng phụ nữ phải gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản.

Kết luận

Luận án "Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước Cách mạng tháng Tám năm 1945" của tác giả Đặng Thị Vân Chi là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, phản ánh chân thực và có hệ thống quá trình chuyển biến nhận thức về giới và quyền bình đẳng trong xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Dựa trên khối tư liệu đồ sộ gồm 102 đầu báo tiếng Việt và phương pháp tiếp cận liên ngành, tác giả đã làm sáng tỏ bối cảnh lịch sử, sự phát triển của dòng báo chí phụ nữ cũng như cuộc đấu tranh tư tưởng giữa các khuynh hướng nữ quyền. Công trình khẳng định vai trò lãnh đạo mang tính quyết định của Đảng Cộng sản trong việc gắn kết phong trào phụ nữ với sự nghiệp cứu nước, đồng thời xác lập nguồn tư liệu tham khảo quan trọng cho nghiên cứu lịch sử và thực thi chính sách bình đẳng giới hiện nay.