Chương 1: Bối cảnh hình thành “Vấn đề phụ nữ” trong xã hội Việt Nam Chương 2: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt từ đầu thế kỷ XX đến năm 1929 Chương 3: Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt từ năm 1929 đến năm 1945. Phần Phụ lục: Gồm 199 trang giới thiệu 62 tờ báo từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945, các mục phụ nữ trên các tờ báo, những thông tin cơ bản về các tờ báo phụ nữ, thống kê các bài xã luận trên các tờ nữ báo, một số bài báo về phụ nữ. Chƣơng 1 BỐI CẢNH XUẤT HIỆN “VẤN ĐỀ PHỤ NỮ” TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. VAI TRÒ VÀ ĐỊA VỊ CỦA PHỤ NỮ TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG 1.
Những điều kiện tự nhiên và xã hội ảnh hƣởng đến vai trò và địa vị của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử Việt Nam là một nước nông nghiệp nằm trên bán đảo Đông Dương ở Đông Nam châu Á lấy nghề trồng lúa nước làm ngành kinh tế chủ đạo. Các truyền thuyết dân gian về “bà mẹ lúa” cùng với tín ngưỡng dân gian thờ nữ thần còn khá phổ biến cho tới tận ngày nay đã phản ánh công lao của phụ nữ trong việc phát minh ra nghề nông, cũng như vai trò quan trọng của họ trong sản xuất nông nghiệp. Đặc điểm của nền kinh tế nông nghiệp tiểu nông trong đó các gia đình nhỏ là đơn vị sản xuất chủ yếu, đòi hỏi sự hợp tác lao động chặt chẽ giữa phụ nữ và nam giới và cho phép phụ nữ tham gia vào mọi khâu trong quá trình sản xuất từ cày, bừa, gieo mạ, cấy, gặt, làm cỏ, bón phân, tát nước. Hình ảnh: “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu, chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa” là hình ảnh tiêu biểu ở nông thôn Việt Nam.
Một đặc điểm khác trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam là do địa bàn cư trú của người Việt nằm ở lưu vực những con sông lớn, có độ dốc cao, lũ lụt thường xuyên xảy ra, nên từ hàng ngàn năm trước, để bảo vệ cuộc sống và mùa màng, người Việt không thể không đắp đê, phòng lụt. Hơn nữa, bản thân nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống tưới tiêu. Vì vậy, đắp đê, làm thuỷ lợi là công việc thường xuyên, đòi hỏi công sức của nhiều người, đặc biệt là nam giới. Ngoài ra, với vị trí là chiếc cầu nối giữa lục địa châu Á rộng lớn với vùng Đông Nam Á hải đảo, Việt Nam thường xuyên bị đe dọa bởi nạn ngoại xâm.
Có thể nói, hiếm có một quốc gia nào trên thế giới trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình lại phải tiến hành chống ngoại xâm nhiều lần và trong nhiều thế kỷ như Việt Nam. Do đó, nam giới luôn luôn bị huy động vào nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, nếu như làm thuỷ lợi và chống ngoại xâm là hai nhân tố cơ bản tạo nên sự cố kết cộng đồng và là điều kiện thúc đẩy nhà nước hình thành sớm ở Việt Nam, thì đó cũng chính là nguyên nhân làm cho phụ nữ Việt Nam phải gánh vác thêm nhiều trách nhiệm đối với gia đình và làng xóm. Đó là khi nam giới thường xuyên phải vắng nhà vì bị huy động đi làm thuỷ lợi và đi đánh giặc bảo vệ tổ quốc thì phụ nữ phải đảm đang, gánh vác mọi việc từ lao động sản xuất ngoài đồng ruộng cho tới nuôi dạy con cái, chăm sóc cha mẹ già.
Ca dao xưa có nhiều câu phản ánh thực tế này: “Chàng ơi phải lính thì đi Cửa nhà sau trước đã thì có em” “Anh đi em ở lại nhà Hai vai gánh vác mẹ già con thơ”. Hay: “Anh đi theo chúa Tây Sơn, Em về cày cuốc mà thương mẹ già”… Đến khi đất nước thanh bình, người đàn ông có nhiều cơ hội được đi học, đi thi, hướng tới cuộc sống cao sang, an nhàn, trong khi người phụ nữ phải hai sương một nắng, gánh thêm công việc của chồng ngoài cánh đồng và chắt chiu cả đời nuôi chồng con ăn học: “ Anh thì quần áo rong chơi Để em đi cấy bồ hôi ướt đầm” “Tiền gạo thì của mẹ cha Cái nghiên cái bút thật là của em” “Sang năm lúa tốt nhiều tiền Em đem đóng thuế đóng sưu cho chồng”… Các thương nhân và giáo sĩ phương Tây đến Việt Nam vào thế kỷ 16, 17, 18 đều có chung nhận xét là phụ nữ Việt Nam rất đảm đang. Họ tham gia vào mọi hoạt động sản xuất cũng như hoạt động buôn bán trong xã hội. Linh mục Jean Koffler đến Đàng Trong từ năm 1740 đến 1755 nhận xét: “Họ (phụ nữ) rất khéo léo trong 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc dệt vải bông và lụa.
Họ cũng nhuộm những thứ này thành nhiều màu khác nhau. Họ cũng rất khéo trong việc làm bánh và mứt kẹo… Phụ nữ trồng thuốc lá, trồng bông, phụ nữ buôn bán ở chợ hay cửa hiệu của người ngoại quốc” [228, tr17]. Trong ca dao cũng có nhiều câu phản ánh sự đảm đang, tần tảo của phụ nữ Việt Nam. Nhiều phụ nữ còn được tôn làm tổ nghề của nhiều nghề thủ công truyền thống như: bà Chúa Chuốt, bà Chúa Sành trong nghề làm gốm, bà Chúa Dệt trong nghề dệt lụa, dệt lĩnh… Bằng cách tham gia vào nền sản xuất xã hội, phụ nữ Việt Nam trở thành những người có đóng góp lớn cho kinh tế gia đình.
Người nước ngoài đến Việt Nam vào những thế kỷ 17-18 đều có nhận xét chung là phụ nữ Việt Nam “thường khéo hơn nam giới trong việc làm tăng thêm tài sản gia đình,. phụ nữ không để mất một nguồn lợi kinh tế nào, bất kể nguồn lợi từ đâu đến” [226, tr17]. Như vậy, do những điều kiện tự nhiên, đặc điểm về kinh tế và xã hội, phụ nữ Việt Nam là những người có vai trò to lớn trong nền sản xuất gia đình và xã hội, và điều này mặc nhiên đã góp phần tạo nên địa vị của họ trong xã hội. Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, gần đây khuynh hướng chung của các nhà khoa học đều cho rằng người phụ nữ có địa vị cao trong gia đình truyền thống Việt Nam.
Điều này không những được phản ánh qua tư liệu lịch sử mà còn được khắc hoạ trong các truyền thuyết, ngôn ngữ và các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, văn hoá dân gian. vẫn còn được lưu giữ đến ngày nay, bất chấp ảnh hưởng khá sâu của Nho giáo vào đời sống chính trị trong xã hội Việt Nam truyền thống. Đó cũng là lý do dẫn đến một số ý kiến phản đối phong trào đòi nữ quyền và giải phóng phụ nữ thời kì đầu thế kỷ XX vì cho rằng ngay trong thời kì phong kiến, phụ nữ Việt Nam đã có nữ quyền. Ảnh hƣởng của Nho giáo đối với địa vị của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử Nho giáo là một học thuyết chính trị xuất hiện ở Trung Quốc từ thời Xuân Thu (722-481TCN).
Tuy mỗi thời kì, mỗi triều đại, Nho giáo chia thành nhiều khuynh hướng khác nhau, nhưng về cơ bản, Nho giáo lấy thuyết “Tam 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cương” làm trụ cột trong việc trị nước. “Tam cương” là ba mối quan hệ cơ bản trong xã hội: vua - tôi, cha - con và vợ - chồng. Quan hệ vua - tôi đề cao chữ trung, nhấn mạnh vào nghĩa vụ của bề tôi đối với vua; quan hệ cha - con đề cao chữ hiếu- nhấn mạnh vào nghĩa vụ của con đối với cha; quan hệ vợ - chồng đặt người phụ nữ vào địa vị phụ thuộc người đàn ông là chủ và là chồng trong gia đình. Theo Nho giáo, phụ nữ phải giữ đạo “tam tòng” và trau dồi “tứ đức”.
“Tam tòng” với nội dung: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (khi chưa lấy chồng, ở nhà thì phải theo cha, khi lấy chồng thì phải theo chồng và khi chồng chết phải theo con trai) rõ ràng đã tước đoạt quyền tự do của người phụ nữ. Quan niệm về “tứ đức” xuất hiện lần đầu tiên trong sách Nữ giới của bà Ban Chiêu1- một phụ nữ trí thức am hiểu kinh điển Nho gia thời Đông Hán (25-220). Đó là bốn tiêu chuẩn quy định về đạo đức và hành vi của phụ nữ, trở thành chuẩn mực về cái đẹp của người phụ nữ. Việc trau dồi “tứ đức” yêu cầu phụ nữ phải thực hiện trong sinh hoạt thường ngày ở gia đình.
Vì vậy, thoạt nhìn “tứ đức” có vẻ như là những phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ cần phải khẳng định và phát huy, nhưng “tứ đức” trong sách của bà Ban Chiêu lại giới hạn trong bốn cái “không cần: tài năng, lanh lợi, xinh đẹp, khéo léo hơn người” và đặt “tứ đức” trong điều kiện “lấy chồng làm giềng mối của vợ” và “tam tòng” làm tiền đề thì rõ ràng “tứ đức” cũng chính là “công cụ nô lệ hoá tinh thần phụ nữ”, là “gông xiềng” để trói buộc phụ nữ. Một điểm khác trong quyển Nữ giới là quan niệm “phụ nữ lấy yếu ớt làm đẹp”. Bà Ban Chiêu cho rằng “Âm dương khác tính, nam nữ dị hành, dương lấy cương làm đức, âm lấy nhu làm dụng, nam lấy dương làm quý, nữ lấy nhược làm đẹp”. “Mềm yếu là tiền đề của nhu thuận”[175, tr137-138].
Như vậy “phụ nữ lấy yếu ớt làm đẹp” là yêu cầu tính cách phụ nữ phải nhu nhược, khoan dung, phục tùng, đối với chồng phải tôn kính, vâng lời, nhường nhịn và khuất phục. Trong hàng nghìn năm sau, Nữ giới của bà Ban Chiêu đã trở thành sách giáo khoa giúp cho phụ nữ Trung Quốc thuộc tầng lớp trên tự mình tu dưỡng, tự mình ràng buộc, tự mình “nhược hoá” mình. Cùng với Nho giáo, những nguyên tắc quy định về đạo đức của phụ nữ đó cũng được truyền bá vào Việt Nam. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam, Nho giáo vào từ khá sớm.
Sau thời kì dựng nước đầu tiên, từ thế kỷ I Tr CN đến thế kỷ X, Việt Nam nằm dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Quốc và Nho giáo đã được du nhập vào Việt Nam trong thời kì này. Tuy nhiên, Nho giáo chỉ ảnh hưởng tới bộ phận nhỏ quan lại thuộc tầng lớp trên. Hầu hết nhân dân Việt Nam sống trong các làng xã vẫn bảo tồn được các giá trị văn hoá truyền thống của mình, trong đó có truyền thống tôn trọng phụ nữ.