mở đầu thời kỳ Đổi Mới, cũng đã từng diễn ra hiện tượng tương tự. Vốn đầu tư nước ngoài cũng ào ạt đổ vào Việt Nam, nhưng rồi những nhà đầu tư lại nhanh chóng rút lui vì Việt Nam lúc đó chưa sẵn sàng, chưa đủ điều kiện để tiếp nhận và sử dụng hiệu quả những nguồn đầu tư này. 8 Roger Mitton, Boom boom nation, Straits Times, 11 November 2006 9 Peh Shing Huei, Three way to win foreign investment, Straits Times, 18 November 2006 21 Phóng viên Roger Mitton đã chỉ ra những hạn chế: chậm chạp trong việc cấp giấy phép kinh doanh, môi trường thiếu minh bạch, sự quá tải về cơ sở hạ tầng và tình trạng tham nhũng đáng lo ngại. Roger Mitton cũng đưa ra kết quả khảo sát về mức độ dễ dàng khi tiến hành công việc kinh doanh: Việt Nam xếp thứ 104/175 quốc gia được khảo sát, tức là dưới trung bình.
Tương tự, để đóng thuế, các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải mất trung bình 1050 giờ để hoàn thành các thủ tục liên quan đến việc đóng thuế, xếp thứ 120/175. Báo The Star Online của Malaysia ngày 31/12/2006 đăng bài viết về những yếu tố gây trở ngại đối với sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam của tác giả Cheah King Yoong. Nội dung: Ngân hàng Thế giới ước tính Việt Nam sẽ cần phải đầu tư 5 tỷ USD mỗi năm vào phát triển cơ sở hạ tầng trong khoảng thời gian 2006-2010. Dù hiện nay các viễn cảnh của VN tỏ ra rất hứa hẹn, vẫn có rất nhiều rủi ro và thách thức tiềm ẩn có thể tác động tiêu cực đến nền kinh tế nước này.
Tốc độ phát triển kinh tế phụ thuộc vào yếu tố kích thích ở bên ngoài nước. Mặc dầu đất nước này đã chứng kiến tốc độ tiêu thụ nội địa mạnh mẽ trong những năm gần đây, nền kinh tế của Việt Nam vẫn tiếp tục bị lái theo mức trao đổi mậu dịch từ bên ngoài cao và đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng (FDI). Tổng giá trị thương mại của VN hiện vào khoảng 150% GDP (Tổng sản phẩm quốc nội), mức cao thứ hai trong khu vực sau Malaysia. Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong những nước thu nhận FDI lớn nhất trên thế giới tính theo quy mô GDP của nước này.
Bởi vậy, Việt Nam đặc biệt dễ bị tổn thương trước sự sụt giảm bất ngờ của kinh tế toàn cầu và các dòng tài chính không dự kiến trước chảy ra từ các thị trường đang nổi. Lạm phát: Trái ngược với thời kỳ đầu phát triển kinh tế ở Trung Quốc, tốc độ phát triển kinh tế ở Việt Nam tiếp tục bị ảnh hưởng bởi tốc độ lạm phát cao. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 11 tăng 10%, mức tăng cao nhất kể từ năm 1996. Sự gia tăng này đẩy tình trạng lạm phát 11 tháng lên mức 9,5%, vượt cả tốc độ tăng trưởng kinh tế dự tính 8,5% trong năm nay và cản trở mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới mức tăng trưởng GDP thực tế.
22 Lạm phát được cho là sẽ tiếp tục tăng cao trong những tháng tới sau khi chính phủ quyết định nâng giá xăng vào cuối tháng 11 vừa qua Hạn chế về cơ sở hạ tầng: Mặc dầu Việt Nam được hưởng lợi từ chiến lược "Trung Quốc + 1" (China plus one), sự thiếu hụt những cơ sở hạ tầng tốt có thể gây cản trở tốc độ phát triển của đất nước. Ngân hàng Thế giới ước tính Việt Nam sẽ cần phải đầu tư 5 tỷ USD mỗi năm vào phát triển cơ sở hạ tầng trong khoảng thời gian 2006-2010. Một trong những vấn đề cấp bách nhất sẽ là thiếu điện nghiêm trọng bởi hệ thống điện quốc gia có thể không đủ sức đáp ứng mức độ tiêu thụ điện tăng vọt trong tương lai gần. Dự tính, Việt Nam thiếu khoảng 4,3-10,3 kWh điện từ năm 2007 tới 2009 Thâm hụt mậu dịch: Không giống như nhiều nền kinh tế châu Á định hướng xuất khẩu, Việt Nam đang phải chịu đựng tình trạng thâm hụt mậu dịch.
Trong 11 tháng đầu tiên của năm, thâm hụt mậu dịch của Việt Nam là 10,5 tỷ USD so với 5,1 tỷ USD trong năm 2006, vượt mức 10 tỷ USD mà Bộ Công thương (MOIT) dự tính trong năm nay. Hiện tại, Việt Nam có đủ các nguồn thu ngoại tệ như FDI, tiền gửi từ nước ngoài và ODA (Hỗ trợ phát triển chính thức) để bù đắp thâm hụt mậu dịch. Tuy vậy, mức thâm hụt cao liên tiếp có thể cản trở sự phát triển kinh tế dài hạn. MOIT dự đoán nước này sẽ không có thâm hụt mậu dịch vào năm 2010 nhưng điều đó dường như là quá lạc quan xét theo mức thâm hụt mậu dịch lớn hiện tại.
Mặc dầu sự gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới sẽ giúp ích rất nhiều cho xuất khẩu, việc dỡ bỏ các hàng rào thuế xuất nhập khẩu sẽ khiến cho hàng nhập khẩu đủ sức cạnh tranh với hàng nội địa, vì vậy xuất khẩu ròng sẽ có đóng góp tiêu cực cho sức tăng trưởng trung hạn. Thâm hụt ngân sách: Chính phủ hiện đang tiếp tục hoạt động ở một mức thâm hụt ngân sách trong nhiều năm. Mặc dầu con số thâm hụt dự tính ở dưới 4% GDP trong năm 2007, vẫn có chi tiêu đáng kể ngoài ngân sách ở Việt Nam. 23 Theo IMF, các hoạt động ngoài ngân sách có thể thêm 3-5% GDP vào con số thâm hụt, điều này có thể biến Việt Nam từ một nước thâm hụt thấp thành một trong những nước có thâm hụt cao nhất trong khu vực.
Mặt khác, tiền thu từ dầu mỏ vẫn là nguồn chính trong thu nhập ngân sách để cấp cho chi tiêu chính phủ và điều này rất rủi ro vì tính không ổn định của giá dầu thô toàn cầu. Không chỉ có thế, biểu thuế nhập khẩu thấp hơn theo quy định của WTO sẽ dẫn tới một sự sụt giảm trong nguồn thu từ thuế hải quan vốn đang chiếm hơn 10% thu nhập ngân sách. Tất cả những yếu tố này có thể đặt đất nước trước nguy cơ rủi ro tài chính tiềm ẩn. Cần thêm lao động có tay nghề cao hơn: Mức cung lực lượng lao động có tay nghề ở trong nước tiếp tục là một thách thức.
Một trong những lý do của việc thiếu hụt lao động lành nghề là chương trình giảng dạy của ngành giáo dục nhìn chung là lỗi thời, không đáp ứng được các yêu cầu công việc hiện tại. Để khắc phục tình trạng này, Chính phủ đã phải hỗ trợ thành lập các trung tâm đào tạo hướng nghiệp, đồng thời khuyến khích người Việt ở nước ngoài trở về giúp xây dựng và phát triển đất nước. FDI được cam kết và FDI được chi: Các cam kết mới về FDI tiếp tục tăng, đạt 11,3 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm, tạo mức tăng 36% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, mức chi FDI thực tế được cho là thấp hơn so với cam kết - chỉ khoảng một nửa - cho thấy khoảng cách giữa mong đợi của các nhà đầu tư và thực tế.
Chính phủ phải liên tục cải thiện hệ thống pháp luật của đất nước, loại bỏ thói quan liêu cửa quyền. Trong một cuộc khảo sát mới đây của Ngân hàng Thế giới và Công ty Tài chính Quốc tế, Việt Nam đứng thứ 91 trong số 178 nền kinh tế thuận lợi cho kinh doanh. Trong danh sách này, Trung Quốc ở vị trí 83 còn Thái Lan xếp thứ 15. Như vậy, Việt Nam phải đủ khả năng cạnh tranh với quốc gia láng giềng nếu tiếp tục muốn thu hút FDI.
Mặc dầu vậy, các con số phát triển gần đây cho thấy tốc độ 24 tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ tiếp tục cao trong những năm tới bất chấp các nguy cơ được đề cập ở trên. Qua đó, có thể thấy rằng, báo chí ASEAN vừa ghi nhận những nỗ lực của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài cũng như đánh giá đúng tiềm năng phát triển dồi dào của Việt Nam vừa mạnh dạn phân tích cụ thể về những hạn chế, dự đoán rủi ro mà nền kinh tế Việt Nam có thể sẽ gặp phải.2 Chính trị và ngoại giao Một trong những yếu tố quan trọng thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đó là sự ổn định về chính trị mà báo chí ASEAN đánh giá rằng điều đó chỉ có được ở một nước nhất nguyên. Bên cạnh đó, năm 2006 còn là năm đánh dấu rõ rệt sự trẻ hóa đội ngũ lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam, hứa hẹn sẽ có nhiều cải cách phù hợp, kịp thời để Việt Nam nhanh chóng sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Sự thay đổi cơ cấu lãnh đạo trong bộ máy chính quyền cũng là một sự cải cách trong chính trị Việt Nam kể từ năm 1975.
Bài “The times, they’re a- changing”10 đã ghi nhận, Việt Nam ngày nay vẫn chỉ có một Đảng chính trị duy nhất, nhưng đã có những người lãnh đạo trẻ hơn, ủng hộ những cải cách và tiến bộ. Những người này đang cầm cương và thúc đẩy quá trình hội nhập của Viêt Nam vào cộng đồng quốc tế. Những nhà lãnh đạo mới, chủ yếu xuất thân từ miền Nam của đất nước rất ủng hộ việc phát triển kinh tế và coi việc này là chìa khóa để giữ vững vai trò lãnh đạo. Cả Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, ông Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Bộ Công an, và ông Trương Tấn Sang, Bí thư thường trực Trung ương Đảng đều đến từ miền Nam… Kết quả là đã có nhiều thay đổi đáng kể.
Năm 2006 thật sự là năm của cải cách hành chính khi hàng loạt chỉ thị, chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng và chính phủ được bạn hành và đi vào cuộc sống. Những chỉ đạo kiên quyết của Thủ tướng xuống các cấp, các ngành đã mang lại hiệu quả tích cực. Nếu như việc thiếu công khai trong các thủ tục hành chính là một trong những mối trở ngại của các nhà đầu tư nước ngoài thì trong năm 2006, chỉ thị 32 10 Roger Mitton, The times, they’re changing, Straits Times, 11 November 2006 25 của Thủ tướng chính phủ về công khai các thủ tục hành chính đã cải thiện rõ rệt. Điều này không chỉ làm phấn khởi cho các nhà đầu tư nước ngoài mà cũng làm cho người dân trong nước cảm thấy hài lòng.
Vào tháng 4/2006, Đại hội Đảng khóa X cũng diễn ra tương tự với trước đây, nhưng minh bạch hơn, có trách nhiệm giải trình cao hơn. Vượt trên ý nghĩa của một đại hội thường kỳ 5 năm một lần, Đại hội X Đảng Cộng Sản Việt Nam có ý nghĩa đánh giá thành tựu, bài học sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước từ sau Đại hội 6 tới 2006.