CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ CÔNG TY VÀ CÔNG TY CỔ PHẦN 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY 1. Khái niệm công ty và các loại hình công ty (i) Khái niệm công ty Thuật ngữ “công ty” được xem xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Xét dưới góc độ kinh tế, công ty là hình thức để nhà đầu tư thực hiện ý tưởng kinh doanh của mình, điều này giúp phân biệt công ty với các loại hình khác như nhà máy, xí nghiệp là các đơn vị kinh tế chuyên sản xuất.
Dưới góc độ pháp lý, công ty có thể hiểu là sự liên kết của nhiều người (cá nhân hay pháp nhân) bằng một sự kiện pháp lý, công ty là một loại hình kinh doanh được pháp luật thừa nhận, là thực thể pháp lý có quyền và nghĩa vụ theo luật định. Trong khoa học pháp lý, khi nghiên cứu, tìm hiểu về công ty pháp luật các quốc gia khác nhau trên thế giới đưa ra không ít khái niệm khác nhau. Theo pháp luật của Pháp “công ty là một hợp đồng thông qua đó hai hay nhiều người thỏa thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của mình vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận thu được qua hoạt động đó”. Theo luật của bang Georgia – Mỹ “một công ty là một pháp nhân được tạo ra bởi luật định nhằm một mục đích chung nào đó nhưng có thời hạn về thời gian tồn tại, về quyền hạn, về nghĩa vụ và các hoạt động được ấn định trong điều lệ”.
Theo luật của bang Lousiana – Mỹ “một công ty là một thực thể được tạo ra bởi luật định bao gồm một hoặc nhiều cá thể dưới một tên chung. Những thành viên có thể kế nghiệp lẫn nhau, vì thế công ty là một khối thống nhất. Tuy nhiên, sự thay đổi của những cá thể trong công ty cho một mục đích cụ thể nào đó được xem xét như một con người cụ thể”. Qua một số khái niệm trên ta thấy chúng có những nét tương đồng, bên cạnh đó cũng có những điểm khác nhau.
Nhưng tổng hợp chung lại có khái niệm tổng quát về công ty như sau: “Công ty là một loại hình tổ chức được tạo lập bởi ý chí của chủ thể đầu tư để hình thành một thực thể kinh doanh mà ở đó, chủ đầu tư chỉ chịu trách nhiệm SVTH: GIÁP THỊ HOÀNG LAN Page 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ths HOÀNG MINH CHIẾN về các nghĩa vụ về tài sản của công ty trong phạm vi vốn điều lệ, nhằm thực hiện mục tiêu lợi nhuận hay mục đích thương mại.” (ii) Các loại hình công ty Trên thế giới có bốn mô hình kinh doanh cơ bản đó là: Cơ sở kinh doanh một chủ (sole proprietorship hay sole trader), công ty hợp danh (partnership), CT TNHH (Artificial legal person hay Separate legal entity), và công ty cổ phần (CTCP ); mà từ đó có thể có các hình thức mang tính lai tạp, pha trộn như công ty hợp vốn cổ phần, công ty dự phần, công ty công – tư hợp doanh. • Cơ sở kinh doanh một chủ (sole proprietorship hay sole trader) : Là hình thức kinh doanh mà người chủ cũng đồng thời là người quản lý - điều hành cơ sở kinh doanh trên danh nghĩa của chính họ. Không có sự phân tách về quyền sở hữu tài sản của người chủ và cơ sở kinh doanh, người chủ chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ. Bên cạnh đó, người chủ thường có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân.
Khác với các công ty, cơ sở kinh doanh một chủ không có tư cách pháp nhân, quy mô của nó thường nhỏ, mang tính gia đình, có thể thuê lao động và thông thường, pháp luật không buộc họ phải đăng ký kinh doanh (ví dụ ở Australia). Mô hình này tương đối giống với các hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam. Nhưng, các chủ thể kinh doanh này ở nước ta đều phải đăng ký kinh doanh và đối với DNTT thì nghĩa vụ nộp thuế là trên danh nghĩa của doanh nghiệp chứ không phải cá nhân. • Công ty hợp danh ( partnership ): CTHD được hiểu là sự hợp tác kinh doanh chung giữa các nhà đầu tư nhằm mục đích lợi nhuận trên cơ sở hợp đồng hợp danh (partnership agreement).
Ở rất nhiều nước, ví dụ Mỹ, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc thì hợp danh có hai loại là CTHD thông thường (general partnership hay gòmei -kaisha ở Nhật Bản) và CTHD hữu hạn (limited partnership hay gòshi -kaisha ở Nhật Bản)[1]. CTHD hữu hạn thường phải đăng ký kinh doanh, còn CTHD thông thường thì có thể không cần phải đăng ký (ví dụ CTHD ở Australia thường không cần làm thủ tục thành lập). [1] Xem thêm Roman Tomasic (chủ biên), Company law in East Asia, Nxb. Ashgate và Dartmouth, tại UK, 1999, tr.
SVTH: GIÁP THỊ HOÀNG LAN Page 9 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ths HOÀNG MINH CHIẾN CTHD thông thường là CTHD mà chỉ có một loại thành viên (partners), tất cả đều chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ty, tất cả thành viên đều tham gia điều hành kinh doanh. CTHD hữu hạn ( hay còn gọi là công ty hợp vốn đơn giản) thì có hai loại thành viên: Các thành viên chỉ góp vốn để lấy lời và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp vào CTHD, nhưng không được tham gia quản lý – điều hành (limited partner); và thành viên chịu trách nhiệm vô hạn và có quyền quản lý điều hành kinh doanh (general partner). Vấn đề CTHD có tư cách pháp nhân hay không đã được tranh luận khá nhiều và khác nhau trong pháp luật thực định của các quốc gia. Ở Mỹ, một số tiểu bang đã coi CTHD như là pháp nhân (separate legal entity), nhưng khác với quan niệm pháp nhân của các nước theo truyền thống luật lục địa, các thành viên hợp danh ở Mỹ vẫn phải chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của CTHD [2].
Nhưng ngược lại, ở nhiều nước khác, kể cả những quốc gia theo truyền thống luật án lệ (Australia chẳng hạn), không coi CTHD là pháp nhân. Ở Việt Nam, từ Luật Doanh ngiệp 1999 đã tồn tại hình thức CTHD nhưng không có sự phân tách rõ ràng giứa hai loại hình CTHD và ở đây nó được coi là tổ chức kinh tế độc lập, có tên riêng, có vốn điều lệ nhưng Luật không quy định có là pháp nhân hay không. Tuy nhiên đến Luật Doanh nghiệp 2005 đã quy định rõ ràng CTHD có tư cách pháp nhân. • Công ty cổ phần: Mô hình CTCP ra đời sau hình thức công ty đối nhân, khi nền sản xuất đã đạt đến trình độ cao.
CTCP Là công ty được hình thành trên cơ sở liên hiệp nhiều tư bản cá nhân bằng cách phát hành và bán cổ phiếu, lợi nhuận của công ty được phân phối đều cho các cổ đông dựa trên số lượng cổ phần. Các cổ đông trong CTCP chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp và không phải liên đới chịu trách nhiệm với cổ đông khác. Các cổ đông không có tư cách pháp nhân, bản thân CTCP là một pháp nhân. • Công ty trách nhiệm hữu hạn (Artificial legal person hay Separate legal entity): Mô hình CT TNHH ra đời sau hình thức CTCP và càng muộn hơn hình thức công ty đối nhân.
SVTH: GIÁP THỊ HOÀNG LAN Page 10 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ths HOÀNG MINH CHIẾN Mô hình CTCP ra đời như một sản phẩm của hoạt động lập pháp khi mà người Đức đã “sáng tạo” ra mô hình Gesellschaft mit beschränkter Haftung – GmbH theo một đạo luật về công ty năm 1892. Mô hình này vừa có các yếu tố quan hệ nhân thân giữa các thành viên như CTHD vừa có chế độ trách nhiệm hữu hạn của thành viên như CTCP. Pháp luật các quốc gia cấm CT TNHH phát hành mọi loại chứng khoán, có quốc gia cho phép phát hành giấy ghi nợ - trái phiếu (debenture) để vay vốn từ bên ngoài vào. Có hai loại CT TNHH đó là công ty một cá nhân (một chủ) và công ty nhiều thành viên.
CT TNHH của một cá nhân (one person/man company) đã được chấp nhận khá phổ biến trên thế giới như ở Mỹ, Anh, Australia, New Zealand, Đức, Pháp và các nước Châu Âu khác[3]. Khả năng thay đổi thành viên của loại hình công ty này khó khăn hơn nhiều so với CTCP. Tuy nhiên, xu hướng pháp luật thế giới và Việt Nam hiện nay có sự thay đổi theo hướng dễ dàng hơn đối với việc chuyển nhượng vốn góp của các thành viên công ty TNHH. Pháp luật của nhiều nước theo truyền thống Common Law như Anh, Australia để việc xác định điều kiện chuyển nhượng cho các thành viên công ty thông qua bản điều lệ của họ.
• Các hình thức công ty khác: Công ty hợp vốn cổ phần: là hình thức công ty kết hợp giữa công ty hợp vốn đơn giản (CTHD hữu hạn) và CTCP. Công ty này có hai loại thành viên, thành viên nhận vốn và thành viên góp vốn. Thành viên nhận vốn có tư cách thương gia, có cổ phần trong công ty và chịu trách nhiệm liên đới với các thành viên khác và vô hạn đối với các khoản nợ của công ty như thành viên hợp danh. Thành viên góp vốn không có tư cách thương gia, chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn như ở CTHD hữu hạn về các khoản nợ nhưng lại có cổ phần như ở CTCP.
Công ty dự phần: là loại hình công ty không có tư cách pháp nhân. Bản chất là sự liên kết giữa các thương nhân không hoạt động dưới một tên hãng chung, không có trụ sở. Công ty này không có tài sản riêng, các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn về các khản nơ. [3] Có thể xem về Chỉ thị này trên website của EU, xem thêm Paul L.
Davies, Gower and Davies Principles of Modern Comapny Law (7thed), NXB: Sweet & Maxwell, London, 2003, tr. SVTH: GIÁP THỊ HOÀNG LAN Page 11 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ths HOÀNG MINH CHIẾN 1. Sự ra đời của công ty và sơ lược lịch sử phát triển CTCP (i) Sự ra đời của công ty Sự ra đời của công ty gắn chặt với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế thị trường. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường tạo sức cạnh tranh lớn.
Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt như vậy đòi hỏi các nhà tư bản phải tìm cách giảm thiểu tối đa mọi chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm không ngừng được nâng cao để có thể đứng vững trên thị trường. Để làm được điều này, các nhà tư bản đã kéo dài thời gian lao động của công nhân để tăng khối lượng sản phẩm.