Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VẤN ĐỀ NHẬN THỨC LUẬN TRONG TÁC PHẨM BỘ CÔNG CỤ MỚI CỦA FRANCIS BACON 1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH VẤN ĐỀ NHẬN THỨC LUẬN TRONG TÁC PHẨM BỘ CÔNG CỤ MỚI CỦA FRANCIS BACON 1. Điều kiện kinh tế hình thành vấn đề nhận thức luận trong tác phẩm Bộ công cụ mới của Francis Bacon Francis Bacon là một trong những người đi đầu cho lối tư duy mới trong nền triết học Tây Âu trong giai đoạn Phục Hưng - cận đại, lối tư duy mới này có chiều hướng xóa bỏ những tư tưởng lỗi thời trong thời kỳ triết học trung cổ. Sự phát triển của những quan niệm mới về tri thức đã dần thay thế triết học kinh viện - triết học mang nội dung trống rỗng và xa rời thực tiễn.
Triết học của Francis Bacon đã phản ánh sâu sắc nhu cầu và khát vọng của con người, của thời đại muốn vượt lên khỏi những cái lỗi thời, lạc hậu, muốn thoát khỏi rào cản của tri thức kinh viện và vươn đến những tri thức khoa học tiến bộ hơn. Tuy nhiên, không chỉ riêng Francis Bacon, mà còn cả những triết gia khác trong thời kỳ này, triết học của họ điều bị chi phối bởi điều kiện lịch sử - xã hội, cũng như là quy luật phát triển của tri thức. Nền kinh tế nước Anh biểu hiện sự thâm nhập sớm và tích cực của chủ nghĩa tư bản vào nền nông nghiệp. Việc các vua Norman xâm chiếm nước Anh ở thế kỷ XI - XII đã đẩy nhanh việc hợp nhất dân tộc và việc phát triển thương mại, thủ công nghiệp được chuyển vào Anh từ các nước tiên tiến thời 15 đó.
Sự phát triển công nghiệp dệt ở Bengan đã thúc đẩy sự phát triển ngành chăn nuôi cừu ở Anh để xuất lông cừu. Chẳng bao lâu sau thì ngành công nghiệp nước Anh cũng phát triển, từ đó thu hút được sự nhập cư của nhiều dân tộc khác vào nước Anh. Trong giai đoạn cuối thời kỳ trung cổ, quan hệ phong kiến nước Anh phát triển rộng rãi ở các nước lục địa, do có nguyên nhân quan trọng là nền kinh tế của các Huân tước thế kỷ XII - XIII không phụ thuộc hoàn toàn vào tầng lớp lao động thấp kém trong xã hội. Người nông nô trong giai đoạn này có cuộc sống khó khăn do có ít đất đai và đa số thì họ không thể sống được trên mảnh đất được phân phát, phải tình cách để sinh sống trên vùng đất của Huân tước và những người địa chủ có điều kiện khác.
Đặc điểm kinh tế nổi bật trong giai đoạn này là sự thâm nhập của hàng hóa nước ngoài, từ đó dẫn đến sự thụt lùi trong quan hệ phong kiến, cũng như là hình thức điều hành kinh tế tiêu dùng của các quý tộc cũng bị lỗi thời. Thị trường địa phương được thúc đẩy phát triển hơn dựa trên sự phát triển của công nghiệp và đô thị. Sự thâm nhập đáng kể của kinh tế hàng hoá vào nông thôn, đã làm cho quý tộc nước Anh không quan tâm tới việc điều hành nền kinh tế tiêu dùng dựa trên lao động tạp dịch. Nhìn chung không phải lao động tạp dịch, mà “tiền” mới trở thành mục đích tối cao của quý tộc.
Vào cuối thế kỷ XII, nhiều nhà quý tộc đã bắt đầu thay thế chế độ lao động tạp dịch bằng chế độ nộp tiền, nếu muốn cuộc sống của họ không bị quấy phá và giám sát thì nhiều người nông nô cũng chấp nhận điều đó. Nhưng các tu viện hay điền chủ lớn thì lại không chấp nhận điều đó. Việc phát triển sản xuất và buôn bán sợi đã có nguồn gốc bắt đầu từ thế kỷ thứ XII và kéo dài sau đó, nó góp phần vào việc thay đổi cải cách phương thức sản xuất kinh tế và làm cho kinh tế phát triển hơn, từ đó cũng bắt đầu thay 16 thế ngành trồng trọt bằng ngành chăn nuôi cừu ở một số vùng, những người tá điền trở thành những người thợ thủ công chế tạo “sợi”. Do đó, có sự phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp và thu hút được nhiều sự quan tâm của tầng lớp lao động và càng ngày có nhiều người lao động từ nông thôn vào thành thị để kiếm sống, vì đồng lương mà họ được trả ở đây sẽ cao hơn.
Từ đó, họ trở thành những người lao động có kinh tế độc lập tự do. Đồng thời, việc đất canh tác, trồng trọt của những người tá điền trước đây bị bỏ hoang và được trả lại cho địa chủ, lạm dụng tình hình đó thì những người tá điền khác có điều kiện sẽ được dịp mua lại hay thuê với điều kiện có lợi nhất cho họ. và Ăngghen, Ph. (2002) có viết ở tác phẩm Tư bản, cụ thể là trong “Chương XXIV - Cái gọi là tích lũy ban đầu”: “Vào cuối thế kỷ XIV, chế độ nông nô ở Anh đã thực sự không còn nữa.
Bấy giờ, tuyệt đại đa số dân cư - và trong thế kỷ XV thì lại càng nhiều hơn nữa - là những nông dân tự do, có kinh tế độc lập, mặc dầu quyền sở hữu của họ có thể bị che đậy dưới những chiêu bài phong kiến nào chăng nữa. Ở những trang trại lớn hơn của các lãnh chúa, người bailiff (người quản lý), trước kia bản thân cũng là nông nô, nay đã nhường chỗ cho người phéc-mi-ê tự do” (tr. Trong thế kỷ XV - XVI, xã hội Tây Âu bước vào giai đoạn tan rã của các đạo luật về kinh tế trung cổ, nền sản xuất công trường thủ công đem lại hiệu quả và năng suất lao động cao hơn, thay thế chế độ phong kiến bằng nền kinh tế sản xuất nhỏ. Sự trao đổi hàng hóa và phát triển không ngừng của ngành buôn bán sợi đã đem lại lợi ích không hề nhỏ cho nền kinh tế.
Chính việc loại bỏ ngành trồng trọt ở nhiều nơi, đã làm xuất hiện nhiều cuộc nổi dậy đấu tranh của nông nô, đặc biệt là những người có điều kiện muốn xóa bỏ chế độ lao động 17 tạp dịch, chế động nông nô cũng như là địa tô. Nền kinh tế nông nô đã tan ra và dẫn đến chế độ công xã nông thôn cũng tan ra theo. Trước đó, cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV sự phát triển của lĩnh vực công nghiệp và thương nghiệp đã làm cho xã hội Tây Âu nói chung và nước Anh nói riêng, diễn ra bước ngoặt mang tính lịch sử. Đó là sự thay đổi phương thức sản xuất trong nền kinh tế.
Phương thức sản xuất tư bản hình thành ngay trong lòng xã hội phong kiến từng bước xóa bỏ phương thức sản xuất cũ và chiếm lấy địa vị thống trị. và Ăngghen, Ph. (2002) trong “chương XXIV - Cái gọi là tích lũy ban đầu”, của tác phẩm Tư bản Mác, có viết: “Mặc dù ngay trong thế kỷ XIV và XV, những mầm mống đầu tiên của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã có rải rác ở một số thành phố lẻ tẻ vùng Địa Trung Hải nhưng thời đại tư bản chủ nghĩa chỉ bắt đầu từ thế kỷ XVI mà thôi. Nơi nào bước vào thời đại đó thì ở nơi ấy, chế độ nông nô đã bị xoá bỏ từ lâu và chế độ thành thị có chủ quyền - trang sử chói lọi của thời Trung cổ - cũng đã mờ nhạt từ lâu rồi” (tr.
Từ cuối thế kỷ XV, nước Anh cũng không nằm ngoài xu hướng vận động đó. Chế độ nông nô đã được xóa bỏ, những khám phá mới về địa lý và thuộc địa hóa diễn ra, làm cho thị trường tiêu thụ ngày càng nhiều hơn. Từ đó, những thành thị mới được mọc lên và trở thành những trung tâm công nghiệp, thương nghiệp lớn cho cả nước, góp phần đẩy mạnh hơn nữa việc sản xuất ở các công xưởng, công nghiệp ở vùng thành thị. Ngành công nghiệp phát triển, các công xưởng sản xuất đòi hỏi phải có đủ đội ngũ công nhân, những người nông nô không có tư liệu sản xuất là một trong những đối tượng được các nhà tư bản nhắm đến.
Đồng thời, công nghiệp cũng cần phải mở rộng thêm nguồn nguyên liệu cho các ngành nghề khác, đặc 18 biệt là công nghiệp len, nên bắt buộc mở rộng những bãi chăn nuôi cừu lông dài. Từ đó, làm xuất hiện bước chuyển biến, mở đường cho quan hệ tư bản chủ nghĩa thực hiện “rào đất” và xua đuổi những chủ sở hữu nhỏ ra khỏi vùng đất của họ và thay vào đó là cánh đồng trồng trọt hay chăn nuôi gia súc (đặc biệt là cừu lông dài). Cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, phong trào này diễn ra ngày càng quyết liệt, nguyên nhân xuất phát có thể nói đến là: thứ nhất, cuối thế kỷ XVI, công nghiệp đã có những phát triển nhất định, làm cho nhu cầu các sản phẩm nông nghiệp ngày càng gia tăng dẫn đến giá cả các loại nguyên liệu và lương thực tăng cao; thứ hai, đầu thế kỷ XVII, giữa địa tô theo tập quán phong kiến và địa tô tư bản chủ nghĩa, có sự chênh lệch ngày càng lớn, các địa tô phong kiến thấy rằng việc đem ruộng đất cho các nhà tư bản thuê, còn có lợi hơn nhiều so với việc bóc lột theo phong kiến với tầng lớp nông nô. Tình hình này đã góp phá hủy công xã nông nghiệp và vô sản hóa nông nô.
Việc tước đoạt ruộng đất của những người nông nô đã tạo ra hàng ngàn người vô sản. Mặc dù, các nhà tư bản đã cho xây dựng thêm các công xưởng sản xuất để đáp ứng việc làm cho những người bị tước ruộng đất, nhưng số lượng công xưởng được xây dựng vẫn không đáp ứng đủ số lượng người bị tước mất tư liệu sản xuất, điều đó làm cho một số người nông nô trở thành những người bần cùng, lang thang, ăn mày ở đầy rẫy mọi ngả đường và thôn xóm nước Anh. Trước tình hình đó, xã hội xuất hiện những cuộc đấu tranh của nông nô nhằm chống lại việc chiếm đất của các nhà tư bản, nhưng những cuộc cách mạng này không có đủ sức mạnh và bị quân đội hoàng gia đàn áp một cách dã man, sau đó còn đẩy mạnh hơn nữa việc rào chiếm đất. Từ thế kỷ XVI, các ngành công nghiệp ở nước Anh phát triển mạnh, những phát minh mới về kỹ thuật cũng bắt đầu xuất hiện, nhất là hình thức tổ chức mới trong lao động đã làm cho năng suất lao động ngày càng tăng cao.
Đến hết thế kỷ XVII, ngành dệt len dạ - ngành sản xuất lâu đời, hầu như đã lan 19 rộng ra khắp toàn nước Anh, từ các thành phố nhỏ đến nông thôn và các ấp trại đều làm len dạ.