mở đầu bằng Cách mạng tháng tám thành công mở ra trang sử mới cho lịch sử phát triển của dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và sau đó là thống nhất đất nước năm 1975. Khi Nhà nước ra đời, để quản lý đất nước cũng như để bảo đảm trật tự xã hội các văn bản pháp luật nói chung và văn bản pháp luật TTDS bước đầu được ban hành. - Văn bản pháp luật có quy định liên quan đến đương sự trong TTDS: Sắc lệnh 47/SL ngày 10/10/1945, Sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946; Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 sau đó được sửa đổi bằng Sắc lệnh số 112/SL ngày 28/6/1946; Hiến Pháp 1946 và Hiến pháp 1959; Thông tư 03/NCLP ngày 03/3/1966 của TANDTC; Thông 12 tư số 39/NCLP ngày 21/1/1972 của TANDTC; Công văn số 125/NCLP ngày 12/7/1986 của TANDTC trả lời về TTDS;. - Nội dung của các quy định pháp luật về đương sự trong TTDS: + Thành phần đương sự trong TTDS: Công văn số 546/DS của TANDTC khẳng định “…khi VKSND khởi tố một vụ kiện về dân sự đòi bồi thường, bồi hoàn cho một cơ quan nhà nước hay một hợp tác xã thì TA cần đưa cơ quan nhà nước hoặc hợp tác xã vào đứng là nguyên đơn trong vụ kiện vì họ là đương sự chính trong vụ kiện”.
Thông tư số 39/NCLP ngày 21/1/1972 của TANDTC quy định “…Cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã, đoàn thể nhân dân đi kiện phải có tư cách pháp nhân”. Như vậy, ở thời kỳ này dù không quy định cụ thể về thành phần đương sự nhưng, khi xem xét toàn diện các quy định pháp luật có thể đánh giá cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể được xem là đương sự trong TTDS. + Tư cách đương sự trong TTDS: Nguyên đơn, Công văn số 05/NCLP ngày 29/6/1966 của TANDTC ghi nhận “.Người có quyền lợi bị xâm phạm ra trước TA với tư cách là nguyên đơn”. Công văn số 125/NCLP ngày 12/7/1986 của TANDTC trả lời về TTDS có hướng dẫn “Đối với vụ kiện dân sự đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà hai bên phải bồi thường cho nhau thì việc xác định tư cách đương sự cũng giống như đối với các vụ kiện khác là: TA căn cứ vào việc bên nào khởi tố trước là nguyên đơn”.
Trong giai đoạn này tư cách nguyên đơn được xác định bằng việc khởi kiện, ai khởi kiện trước người đó là nguyên đơn trong TTDS. Bị đơn, Công văn số 05/NCLP ngày 29/6/1966 của TANDTC về tư cách của bị đơn trong vụ kiện dân sự: “…người có nghĩa vụ hoặc phải chịu trách nhiệm tham gia vụ kiện ở vị trí bị đơn”. Như vậy, trong giai đoạn này chủ thể nào bị xem là có nghĩa vụ hoặc phải chịu trách nhiệm được xác định là bị đơn trong TTDS. Người dự sự, Báo cáo tổng kết công tác năm 1967 của Toà dân sự TANDTC cũng đề cập “Về thủ tục xét xử thì về loại việc ly hôn đối với một bên đi công tác xa là thuộc quyền của TAND tỉnh, thành và khi xử cần báo cho VKSND cử đại diện đến tham gia, mời gia đình của người đi công tác xa đến dự phiên toà và đưa họ vào dự sự trong trường hợp người vợ có xin đòi bồi thường công sức…”.
Như vậy, trong giai đoạn này những chủ thể có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quan hệ pháp luật đang được giải quyết theo thủ tục TTDS được xác định là người dự sự. Nhìn chung thời kỳ này chưa có bất kỳ điều luật nào ghi nhận về khái niệm và tư cách đương sự trong pháp luật TTDS nhưng khi xem xét một cách tổng thể có thể 13 đánh giá rằng nguyên đơn, bị đơn, người dự sự được xác định với tư cách là đương sự trong TTDS. + Các quy định về năng lực chủ thể của đương sự: Công văn 07/NCLP ngày 30/9/1966 của TANDTC quy định: “Khi xét xử tại phiên toà, người mất trí sẽ do người đại diện thay mặt…”. Thông tư số 39/NCLP ngày 21/1/1972 của TANDTC ghi nhận “Người vị thành niên không có năng lực hành vi.
Vì vậy, nếu quyền lợi của họ bị xâm phạm, người giám hộ có quyền đi kiện thay cho họ”. Như vậy, trong giai đoạn này pháp luật chưa có quy định cụ thể về năng lực chủ thể của đương sự trong TTDS. Tuy nhiên, đối với các thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự khác nhau có quy định một số trường hợp đương sự không có năng lực hành vi khi tham gia TTDS. Đây có thể được xem là những ghi nhận ban đầu về năng lực chủ thể làm cơ sở cho việc hoàn thiện hơn đối với các quy định về năng lực chủ thể của đương sự trong TTDS ở các thời kỳ sau.
+ Quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong TTDS: Quyền khởi kiện, tại Mục 3, phần III Thông tư 03/NCLP ngày 03/3/1966 của TANDTC quy định “…Đương sự có quyền đưa đơn trực tiếp đến TA”; Quyền thay đổi yêu cầu khởi kiện, Thông tư số 614/DS ngày 24/4/1963 của TANDTC quy định “đương sự cũng có quyền thay đổi trước khi Toà án ra quyết định”; Quyền yêu cầu TA áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT): Thông tư 03/NCLP ngày 03/3/1966 của TANDTC quy định “…TA chỉ thực hiện một hoặc nhiều BPKCTT khi đương sự có yêu cầu và khi TA xét là cần thiết…”; Quyền kháng cáo, Điều 1 Sắc lệnh Sắc lệnh số 112/SL ngày 28/6/1946 quy định “Trong những trường hợp mà theo pháp luật hiện hành các người đương sự có quyền kháng cáo…” Bên cạnh một số quy định về những quyền tố tụng cơ bản của đương sự giai đoạn này còn xác định nghĩa vụ pháp lý của đương sự đó là nghĩa vụ chứng minh. Như vậy, trong giai đoạn này dù các quy định pháp luật về quyền tố tụng của đương sự còn nằm phân tán trong các văn bản pháp luật khác nhau và chưa có một quy định cụ thể ghi nhận các quyền, nghĩa vụ của đương sự. Tuy nhiên, trong các thủ tục cụ thể pháp luật đã ghi nhận cho đương sự các quyền, nghĩa vụ tố tụng cơ bản như quyền khởi kiện, quyền thay đổi yêu cầu khởi kiện, quyền yêu cầu TA áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyền kháng cáo, nghĩa vụ chứng minh…. Tóm lại, nhìn chung từ năm 1945 đến năm 1954 do điều kiện đất nước còn trong quá trình kháng chiến nên những quy định pháp luật TTDS chủ yếu quy định về thủ tục mà chưa quy định cụ thể về đương sự trong TTDS nên các quy định về 14 đương sự còn mờ nhạt; sau năm 1955 đã có khá nhiều văn bản được ban hành trong đó có các văn bản điều chỉnh các vấn đề tư cách đương sự trong VADS, năng lực hành vi TTDS của đương sự, một số quyền, nghĩa vụ tố tụng cơ bản của đương sự.
Tuy nhiên, các quy định của pháp luật TTDS ở giai đoạn này vẫn còn chưa tập trung, các quy định về đương sự chỉ dừng lại ở mức ghi nhận cơ bản. Đòi hỏi cấp thiết là phải có các quy định cụ thể hơn về đương sự khi mà các quan hệ pháp luật dân sự và TTDS ngày càng có sự phát triển. Giai đoạn từ ngày 01/01/1990 đến ngày 31/12/2004 - Về điều kiện lịch sử: đây là giai đoạn nước ta bước vào thời kỳ xây dựng đất nước và có những đổi mới. Điều kiện xã hội có sự thay đổi, phát triển làm cho các quan hệ xã hội đa dạng hơn đòi hỏi sự thay đổi, hoàn thiện của pháp luật, trong đó có quy định của pháp luật TTDS.
Vì vậy, trong thời kỳ này cần một văn bản pháp luật có hiệu lực cao và quy định tương đối đầy đủ các vấn đề về TTDS, trong đó có các quy định về đương sự. - Các văn bản pháp luật TTDS có quy định về đương sự: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) 1989; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT) 1994; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (PLTTGQCTCLĐ) 1996; ngoài ra, còn có các văn bản hướng dẫn khác như Nghị quyết, Thông tư… - Nội dung của các quy định pháp luật về đương sự: đặc trưng của pháp luật tố tụng giai đoạn này là có sự phân chia về thủ tục giải quyết theo các loại tranh chấp dân sự; kinh tế; lao động. + Thành phần đương sự trong TTDS: các tranh chấp dân sự và kinh tế thì pháp luật quy định công dân, pháp nhân có quyền khởi kiện. Các tranh chấp lao động thì người lao động, tập thể người lao động, người sử dụng lao động có thể khởi kiện vụ án lao động.
Nhìn chung giai đoạn này đã có những quy định về thành phần đương sự cụ thể hơn giai đoạn trước. Tuy nhiên, với quy định là pháp nhân mới có thể được xác định là đương sự thì các tổ chức có thể tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập, có đầy đủ các đặc điểm có thể trở thành một bên đương sự nhưng những tổ chức này không có tư cách pháp nhân như doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình…khi chủ thể này tham gia TTDS thì có được xác định là đương sự không, từ những bất cập đó đòi hỏi cấp thiết là phải có sự thay đổi cho hợp lý hơn. + Tư cách đương sự: PLTTGQCVADS 1989; PLTTGQCVAKT; PLTTGQCTCLĐ 1996 đều quy định tư cách đương sự gồm nguyên đơn, bị đơn, 15 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Như vậy, trong giai đoạn này đã có quy định chính thức về tư cách đương sự trong TTDS, đây được xem như là một sự tiến bộ hơn giai đoạn trước.
+ Năng lực chủ thể của đương sự: quy định pháp luật về năng lực chủ thể của đương sự trong giai đoạn này chỉ ghi nhận vấn đề năng lực hành vi tố tụng của đương sự. PLTTGQCVAKT 1994 không đề cập đến vấn đề năng lực chủ thể trong quá trình giải quyết các vụ án kinh tế. PLTTGQCVADS 1989 và PLTTGQCTCLĐ 1996 có những quy định tương đồng nhau về năng lực hành vi của đương sự như: người từ đủ 18 tuổi trở lên là những người có năng lực hành vi đầy đủ, có quyền tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự; người chưa thành niên khi tham gia tố tụng phải có người đại diện; người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần mà không thể tham gia tố tụng thì phải có người đại diện tham gia tố tụng. Ngoài ra, còn có những quy định về việc tham gia tố tụng của người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng.