Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Địa vị pháp lý của Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp huyện trong xét xử các vụ án hình sự 1. Khái niệm Thẩm phán Quá trình tố tụng hình sự Việt Nam được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau, với nhiều cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau, mà trong đó vị trí, vai trò của mỗi cơ quan là khác nhau. Mỗi cơ quan tiến hành tố tụng được xác lập quyền và nghĩa vụ thông qua các chủ thể khác nhau gọi là những người tiến hành tố tụng.
Những người tiến hành tố tụng này có chức năng nhiệm vụ và quyền hạn riêng nhưng đều có trách nhiệm là phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. TAND là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng có vị trí và vai trò quan trọng, là cơ quan cuối cùng kết thúc một quá trình tố tụng. Trong TAND, Thẩm phán là người có vị trí và vai trò then chốt để thực thi nhiệm vụ tố tụng của Tòa án. Những người tiến hành tố tụng của Tòa án gồm có: Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký toà án.
Các quốc gia khác nhau thì cũng có các quy định khác nhau về quyền hạn, chức năng, cách thức bổ nhiệm, kỷ luật, và đào tạo Thẩm phán. Thẩm phán thực hiện việc xét xử một cách không thiên vị tại các phiên tòa công khai. Thẩm phán nghe những người làm chứng và các bên trong vụ án trình 11 bày chứng cứ, đánh giá mức độ xác thực của các bên, và sau đó đưa ra phán quyết về vấn đề được trình bày dựa trên việc giải thích pháp luật và đánh giá chủ quan của mình. Tại một số quốc gia, quyền hạn của Thẩm phán được chia sẻ với Bồi thẩm đoàn hoặc Hội thẩm, trong khi đó một số quốc gia khác lại giảm dần việc chia sẻ quyền hạn này.
Trong hệ thống tố tụng hình sự thẩm vấn, Thẩm phán đã tham gia vào việc điều tra sẽ không được là Thẩm phán xét xử vụ án đó. Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật; là sự thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình. Thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật. [46] Dưới góc độ xã hội, Thẩm phán được xem như là một nghề theo sự phân công của xã hội.
Khi thực thi quyền hạn của mình, Thẩm phán đã thực hiện công việc thuộc nghề nghiệp của mình mà xã hội đã phân công, đó là nghề xét xử. Thẩm phán nhân danh Nhà nước để đưa ra phán quyết và khi bản án có hiệu lực pháp luật thì tất cả cơ quan, tổ chức và mọi công dân đều phải chấp hành, kể cả những cơ quan nhà nước. Thẩm phán được hiểu theo nghĩa chung là một chức danh tư pháp. Cho đến nay ở nước ta chưa có văn bản pháp luật nào của Nhà nước quy định về khái niệm chức danh tư pháp.
Có quan điểm cho rằng những người nào trực tiếp thực hiện quyền lực tư pháp thì mới là chức danh tư pháp. Do vậy chức danh tư pháp bao gồm Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký Toà án, Hội thẩm. Trong các chức danh tư pháp thì Thẩm phán được xác định là 12 một chức danh tư pháp quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện quyền tư pháp. [38] Theo Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Như vậy, chúng ta có thể rút ra khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán là tổng thể các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ pháp lý của Thẩm phán khi tiến hành các hành vi tố tụng được pháp luật quy định. Từ khái niệm trên, chúng ta có thể nhận thấy, nội hàm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự được phản ánh và thể hiện ở những phương diện: Các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự và các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hình sự. Thẩm phán là một chức danh tư pháp quan trọng mang tính chuyên nghiệp của Tòa án nói riêng và trong bộ máy nhà nước nói chung. Hoạt động xét xử là yêu cầu khách quan, là một trong những chức năng của nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước.
Tuy nhiên, Thẩm phán lại ra đời muộn hơn (chỉ vào cuối chế độ phong kiến, đầu chế độ tư bản mới xuất hiện Thẩm phán). Tính chuyên nghiệp của Thẩm phán trong hoạt động xét xử là một trong những đặc tính quan trọng không những thể hiện trình độ cao về nghề nghiệp của Thẩm phán mà còn khẳng định vị thế của Thẩm phán trong bộ máy nhà nước và đối với xã hội. Ở nước ta, từ năm 2002, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm TAND đã ghi nhận Thẩm phán là một chức danh tư pháp mà trước đó về mặt pháp lý Thẩm phán chỉ được coi là một chức vụ. Qui định này đánh dấu một bước ngoặt về nhận thức để xây dựng đội ngũ Thẩm phán chuyên nghiệp, đáp ứng các yêu cầu của hoạt động xét xử, nhất là xét xử các 13 vụ án hình sự.
Chỉ khi nào thực sự coi Thẩm phán là một nghề, có vị trí, chức danh nhất định trong xã hội thì họ mới có cơ sở và điều kiện pháp lý để phát huy hết năng lực, phấn đấu cho sự nghiệp của mình. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Thẩm phán trong xét xử các vụ án hình sự Kết quả xét xử của Toà án là sản phẩm cuối cùng của một quá trình tố tụng. Thông qua bản án, toàn bộ kết quả của một quá trình tố tụng được đúc kết lại và khẳng định một người nào đó là có tội hay không. Thẩm phán là người thay mặt cho Tòa án, được pháp luật trao quyền để thực hiện chức năng xét xử của Tòa án, nên vị trí và vai trò của Thẩm phán được đánh giá song hành với vị trí, vai trò của Tòa án.
Trong thời kỳ phong kiến, nhà vua chính là quan toà, là người xét xử tối cao. Cách mạng tư sản ra đời đã tạo ra một cuộc cách mạng mới về quy trình tố tụng mà quyền lực của Tòa án được tách bạch thành một quyền độc lập. Thẩm phán giữ vị trí quan trọng trong việc xét xử - giai đoạn trung tâm của hoạt động tố tụng. Vì thế số lượng, chất lượng của đội ngũ Thẩm phán cũng như cách thức tổ chức, cơ chế vận hành đối với đội ngũ Thẩm phán là yếu tố mang tính quyết định đến hiệu quả quá trình giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Hiến pháp năm 1992, Luật Tổ chức TAND năm 2002, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 quy định điều kiện, tiêu chuẩn Thẩm phán, cũng như quyền hạn, nghĩa vụ của họ khi tiến hành tố tụng. đã góp phần nâng cao một bước chất lượng của đội ngũ Thẩm phán những năm vừa qua. Thông qua hoạt động xét xử của mình, Thẩm phán góp phần vào việc bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người dân. Mỗi phán quyết của Thẩm phán có thể dẫn tới việc công dân, pháp nhân được hưởng quyền và 14 lợi ích hoặc phải gánh chịu các hậu quả pháp lý nhất định.
Đặc biệt là trong lĩnh vực hình sự, phán quyết của Thẩm phán dẫn đến hậu quả pháp lý vô cùng nghiêm trọng đối với người bị kết án. Sai lầm trong hoạt động xét xử của Thẩm phán sẽ dẫn đến tình trạng xử oan, sai. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân mà có thể làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự công bằng của xã hội, vào pháp luật của Nhà nước ta. Với mọi người, Toà án không chỉ là bảo vệ pháp luật mà còn là biểu tượng của công lý, sự công bằng xã hội.
Qua phân tích trên, chúng ta nhận thấy vị trí trung tâm của Thẩm phán trong hoạt động xét xử cũng như trong hoạt động tư pháp hình sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán là người đảm bảo sự công bằng thông qua hoạt động xét xử và do vậy bảo vệ công bằng trong hoạt động xét xử là yêu cầu không thể thiếu trong hoạt động nghề nghiệp của người Thẩm phán. Công bằng trong xét xử là công bằng đối với tất cả mọi người bất kể người đó là ai, giữ cương vị gì, chức vụ gì đều phải xử lý nghiêm minh theo đúng tội trạng và hậu quả của hành vi phạm tội. Công bằng thể hiện ở việc không được thiên lệch, không được nhân nhượng về bên nào; tất cả các đương sự, bị cáo không phân biệt thành phần xuất thân, địa vị xã hội, thành phần kinh tế đều phải được bình đẳng như nhau trước pháp luật; các hành vi, quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Thẩm phán nhìn nhận đánh giá một cách khách quan giữa hành vi phạm tội và trách nhiệm trước pháp luật của tội phạm.
Xác định tội danh đúng là tiền đề quan trọng để cho việc quyết định hình phạt tương xứng, công bằng, phù hợp pháp luật. Sự tương xứng ấy cũng khắc phục những mặc cảm, định kiến, khuynh hướng cực đoan dễ nảy sinh trong tâm lý của người xét xử. Công bằng đòi hỏi các quyền của đương sự, bị cáo, người bị hại phải được bảo vệ bằng pháp luật. Một đòi hỏi nữa của công bằng là người bị kết tội oan phải được minh oan và khôi phục mọi quyền lợi đầy đủ, kịp thời theo Luật Trách 15 nhiệm bồi thường Nhà nước.
Chức năng của Tòa án là xét xử và chức năng của Thẩm phán cũng là xét xử.