Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự e 7 Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh Chương 3. Quan điểm bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự từ thực tiễn Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh e 8 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN ĐỀ NGHỊ KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM DÂN SỰ 1. Khái quát về bảo đảm quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 1.
Kháng nghị giám đốc thẩm dân sự 1. Kháng nghị Nhân danh Nhà nước để thực hiện chức năng xét xử, Tòa án ban hành các bản án, quyết định để giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các bên đương sự khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự. Do đó, phán quyết của Tòa án phải được cá nhân, cơ quan, tổ chức tôn trọng và được thi hành trên thực tế. Một vụ án dân sự từ khi đương sự khởi kiện, Tòa án thụ lý, đưa vụ án ra xét xử và ra bản án, quyết định, sẽ có hiệu lực pháp luật ngay nếu đương sự không có kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.
Trường hợp nếu bản án, quyết định đó bị kháng cáo hoặc kháng nghị, thì vụ án đó tiếp tục được xem xét ở Tòa án cấp phúc thẩm, lúc đó bản án, quyết định phúc thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, trong trường hợp phát hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm nghiêm trọng về pháp luật nội dung, tố tụng thì người có thẩm quyền kháng nghị sẽ kháng nghị để xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm. Trong Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (2006), do Nhà xuất bản Đã Nẵng xuất bản, Kháng nghị là bày tỏ ý kiến phản đối bằng đơn chính thức [42]. Tác giả Nguyễn Văn Xô trong cuốn sách cũng có tên Từ điển tiếng Việt, Nxb Thanh Niên thực hiện, quan niệm Kháng nghị là bày tỏ ý kiến phản đối một việc gì [43].
Còn theo Từ điển mở Wiktionary thì “Kháng nghị là bày tỏ ý kiến chống lại điều đã quyết nghị” [44]. e 9 Theo Từ điển Luật học: “Kháng nghị là việc người có thẩm quyền, bằng đơn của mình gửi đến Tòa án có thẩm quyền làm ngừng hiệu lực phán quyết của Tòa án trong bản án, quyết định để xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nhằm làm cho vụ án được xét xử chính xác, khách quan và đúng pháp luật” [40]. Theo khái niệm này, chỉ có những người được pháp luật giao cho thẩm quyền kháng nghị mới được kháng nghị và hình thức kháng nghị phải bằng văn bản. Tuy nhiên, quan niệm này có thể không đủ để giải thích cho những vấn đề của thực tiễn phát sinh.
Mặc dù kháng nghị là phân tích chỉ ra những vi phạm, sai lầm của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng nếu trong phần quyết định của kháng nghị không có nội dung tạm hoãn thi hành bản án, quyết định cho đến khi xét xử giám đốc thẩm thì về nguyên tắc bản án, quyết định đó vẫn có thể bị thi hành. Trong thực tế, đã có trường hợp mặc dù có quyết định kháng nghị nhưng không nêu việc tạm hoãn thi hành án dẫn đến Cơ quan thi hành án vẫn tiếp tục thi hành bản án, quyết định đó. Mặc dù có cách diễn đạt khác nhau, nhưng hầu hết các quan điểm đều cho rằng kháng nghị là việc phản đối bằng văn bản đối với một vấn đề đã được được định đoạt, đối chiếu vào pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam thì đó là sự phản đối lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Mục đích của kháng nghị là để thể hiện sự phản đối của chủ thể có thẩm quyền kháng nghị đối với phán quyết của Tòa án thông qua việc ra bản án, quyết định mà chủ thể kháng nghị cho rằng chưa khách quan, toàn diện và đúng pháp luật để Tòa án có thể xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, bảo vệ quyền lợi chính đáng của đương sự và đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Giám đốc thẩm dân sự e 10 Thủ tục giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt của tố tụng dân sự được tiến hành trên cơ sở kháng nghị của chủ thể có thẩm quyền khi phát hiện bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật vi phạm nghiêm trọng pháp luật. Thủ tục này do Tòa án có thẩm quyền thực hiện nhằm kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị. Có nhiều quan niệm khác nhau về giám đốc thẩm. Trong cuốn Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam có ghi:“Giám đốc thẩm là xử lại một bản án của Tòa án cấp dưới" [12].
Tuy nhiên, khái niệm này chưa làm rõ được nội hàm của thủ tục giám đốc thẩm vì nếu việc xét xử lại một bản án của Tòa án cấp dưới mà bản án, quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật thì không được xem là thủ tục giám đốc thẩm mà là thủ tục xét xử phúc thẩm, đó là những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật nhưng có kháng cáo của các bên đương sự, hoặc kháng nghị của người có thẩm quyền. Còn Giám đốc thẩm là xét xử lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Trong khoa học pháp lý, có nhiều quan điểm khác nhau về giám đốc thẩm: Theo tác giả Nguyễn Đức Mai trong Bình luận khoa học tố tụng dân sự cho rằng: “Giám đốc thẩm không phải là một cấp xét xử mà chỉ là một thủ tục đặc biệt có nhiệm vụ xét lại nhằm kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị do phát hiện có vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nhằm bảo đảm việc xử lý vụ án được chính xác” [14]. Quan điểm này khẳng định giám đốc thẩm không phải là một cấp xét xử do đó nó không phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật tố tụng như: thụ lý hồ sơ, thu thập tài liệu, chứng cứ, đưa vụ án ra xét xử và ra bản án, quyết định như ở cấp xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm… mà chỉ là thủ tục đặc biệt nhằm kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.
e 11 Cũng có những quan điểm lại cho rằng: “Giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự là thủ tục tố tụng đặc biệt của tố tụng dân sự, theo đó Hội đồng giám đốc thẩm xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyền nhằm xác định những sai lầm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật"[8]. Trong lĩnh vực dân sự, giáo trình của Trường Đại Học Luật Hà Nội có ghi: “Giám đốc thẩm dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án” [36]. Qua những phân tích nêu trên, có thể hiểu kháng nghị giám đốc thẩm dân sự như sau: Kháng nghị giám đốc thẩm dân sự là hoạt động tố tụng do người có thẩm quyền thực hiện, phản đối bằng văn bản gửi cho Tòa án có thẩm quyền khi phát hiện bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật vi phạm pháp luật nghiêm trọng để Tòa án xem xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật một cách khách quan, chính xác và đúng pháp luật. Quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự Quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự xuất phát từ quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, một trong những quyền cơ bản được Hiến Pháp ghi nhận, tôn trọng bảo vệ và bảo đảm, cụ thể Điều 30: “1.
Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.” Về cơ bản Điều 30 Hiến pháp năm 2013 là sự ghi nhận lại Điều 74 Hiến pháp 1992 bằng quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí cao nhất đảm bảo cho các công dân được thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và buộc các cơ quan Nhà nước, các nhà chức trách phải xem xét và giải quyết kịp thời.
Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 đã có bước phát triển mới khi coi quyền này không những là quyền của công dân mà là quyền con người khi thay thế thuật ngữ “công dân có quyền” bằng “mọi người có quyền”. Hiến pháp không những nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo mà đồng thời còn nghiêm cấm việc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo để làm hại người khác. Đây là sự kế thừa quy định của Hiến Pháp năm 1992. Thực tế cho thấy rằng việc vu khống, vu cáo người khác là một hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm tổn thất danh dự, nhân phẩm và cuộc sống bình thường của con người và công dân.
Đây là cơ sở pháp lý cao nhất để công dân có thể tiếp cận công lý. Vì vậy, pháp luật tố tụng dân sự với tư cách là công cụ hữu hiệu bảo vệ các quyền dân sự của công dân đã có những quy định cụ thể để bảo đảm cho đương sự có khả năng bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Theo đó, đương sự có đầy đủ các quyền tố tụng trong đó có quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm dân sự đối với các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.