Tổng quan nghiên cứu

Thế kỷ XXI đánh dấu sự chuyển dịch mô hình bệnh tật toàn cầu khi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhận định nhân loại đang bước vào thời đại của các bệnh lý tinh thần. Tại Việt Nam, hệ thống y tế đối mặt với tình trạng quá tải nghiêm trọng khi cả nước có khoảng 1.125 bệnh viện với 215.640 giường bệnh, trong đó công suất sử dụng giường bệnh tại các bệnh viện tuyến trung ương thường xuyên vượt mức thiết kế, điển hình như Bệnh viện K đạt 249%, Bệnh viện Bạch Mai đạt 168% và Bệnh viện Chợ Rẫy đạt 154%. Tình trạng quá tải cùng nguy cơ bạo lực y khoa (với 60% vụ việc xảy ra ở bệnh viện tuyến tỉnh và 70% nạn nhân là bác sĩ) tạo áp lực tâm lý nặng nề lên nhân viên y tế.

Vấn đề nghiên cứu tập trung vào thực trạng căng thẳng nghề nghiệp và sự thiếu vắng các cơ chế can thiệp tâm lý chuyên nghiệp dành cho thầy thuốc. Luận văn hướng tới mục tiêu nhận diện các khía cạnh biểu hiện, nguyên nhân gây stress ở cán bộ y tế, đồng thời làm rõ vai trò then chốt của nhân viên công tác xã hội trong việc tham vấn, kết nối nguồn lực và tổ chức hoạt động hỗ trợ giảm stress.

Nghiên cứu được triển khai tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông – bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Sở Y tế Hà Nội với quy mô 700 giường bệnh và 750 cán bộ nhân viên, phục vụ khoảng 300.000 lượt khám và 70.000 lượt điều trị nội trú mỗi năm. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa diễn ra từ tháng 01/2018 đến tháng 08/2019. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp giải pháp can thiệp nhóm, góp phần giảm thiểu 20% đến 30% các chỉ số căng thẳng cảm xúc và nâng cao năng suất phục vụ người bệnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết liên ngành nhằm luận giải toàn diện hiện tượng căng thẳng nghề nghiệp. Lý thuyết vai trò (Role Theory) được sử dụng để phân tích các kỳ vọng xã hội, sự xung đột vai trò và hành vi của nhân viên y tế, đồng thời định vị các vai trò đa nhiệm của nhân viên công tác xã hội như vai trò trung gian, biện hộ, kết nối và giáo dục. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp Lý thuyết thích ứng với stress của Hans Selye với 3 giai đoạn (báo động, kháng cự, kiệt sức) và Mô hình đòi hỏi - kiểm soát công việc của Robert Karasek để phân tích cơ chế phát sinh căng thẳng khi khối lượng công việc vượt quá nguồn lực đáp ứng.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Stress của cán bộ y tế (trạng thái căng thẳng tâm lý do điều kiện làm việc phức tạp tác động đến nhận thức, sinh lý và hành vi), Cán bộ y tế (theo Thông tư 22/2013/TT-BYT) và Công tác xã hội trong y tế (các hoạt động giải quyết vấn đề tâm lý xã hội theo Thông tư 43/2015/TT-BYT và Quyết định 33/2010/QĐ-TTg). Bệnh viện đa khoa Hà Đông hiện có 60% bác sĩ đạt trình độ sau đại học, tạo tiền đề vững chắc cho việc tiếp nhận các can thiệp chuyên môn mới.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua phương pháp điều tra bảng hỏi kết hợp nghiên cứu trường hợp và thực nghiệm công tác xã hội nhóm. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 136 cán bộ y tế đang công tác tại các khoa trọng điểm chịu áp lực cao nhất của viện: Khoa Khám bệnh, Khoa Cấp cứu và Khoa Nhi.

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được lựa chọn nhằm tiếp cận nhanh chóng các nhân sự trực tiếp làm chuyên môn trong bối cảnh công việc bệnh viện luôn bận rộn. Mẫu khảo sát bao gồm 28 bác sĩ (chiếm 20,8%), 70 điều dưỡng và hộ lý (chiếm 51,5%), dược sĩ (chiếm 6,6%) và 20 nhân viên hành chính, gián tiếp (chiếm 14,7%).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả (tính điểm trung bình ĐTB và tỷ lệ phần trăm theo thang đo Likert 5 mức độ) là để lượng hóa chính xác các biểu hiện cơ thể, cảm xúc và hành vi stress. Phương pháp nghiên cứu định tính qua trường hợp điển hình giúp đi sâu vào bản chất tâm lý vi mô. Toàn bộ tiến trình thu thập và xử lý số liệu được hoàn thiện từ tháng 12/2018 đến tháng 03/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế trên 136 cán bộ y tế tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông đem lại nhiều phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, mức độ hiểu biết về stress của nhân viên y tế đạt điểm trung bình chung là 3,13 trên thang điểm 5. Đa số cán bộ y tế tự đánh giá có hiểu biết ở mức độ tương đối, chiếm 62,5% (85 người); tỷ lệ biết rất ít và biết nhiều đồng mức 16,2% (22 người); trong khi nhóm chưa biết gì chỉ chiếm 3,7% và biết rất nhiều chiếm 1,5%. Riêng nhóm bác sĩ có nhận thức sâu hơn với 53,6% biết nhiều và 28,6% biết rất nhiều về stress.

Thứ hai, áp lực tâm lý tập trung đậm nét ở nhóm lao động trẻ và nhân sự mới. Nhóm tuổi từ 26 đến 40 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất toàn mẫu với 59,5% (81 người). Về thâm niên, cán bộ có thời gian công tác dưới 5 năm chiếm tỷ lệ áp đảo 41,2%, trong khi nhóm công tác trên 20 năm chỉ chiếm 13,5%. Tỷ lệ nữ giới chiếm 58% toàn mẫu, chịu nhiều biểu hiện căng thẳng cảm xúc và áp lực gia đình hơn nam giới (chiếm 42%).

Thứ ba, khối lượng công việc quá tải và môi trường làm việc nguy cơ cao là nguyên nhân hàng đầu. Lực lượng điều dưỡng chiếm 51,5% phải trực tiếp chăm sóc cho hơn 70.000 lượt bệnh nhân nội trú mỗi năm. Điểm trung bình các nguyên nhân gây căng thẳng xuất phát từ áp lực ca trực đêm, lo sợ sự cố y khoa và nguy cơ xung đột với thân nhân người bệnh tại Khoa Cấp cứu.

Thứ tư, nhu cầu can thiệp công tác xã hội là rất lớn nhưng hoạt động thực tế chưa bao phủ tới nhân viên y tế. Phòng Công tác xã hội của viện (thành lập từ tháng 11/2017 theo Quyết định 214/QĐ-BV) với 3 tổ chuyên trách chủ yếu tập trung hỗ trợ người bệnh nghèo và hướng dẫn khám chữa bệnh, chưa xây dựng được chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần thường quy cho nhân viên y tế nội bộ.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu nhân khẩu học (59,5% tuổi 26-40; 58% nữ giới) và biểu đồ cột so sánh điểm trung bình giữa 3 nhóm biểu hiện: cơ thể (mệt mỏi, đau đầu), cảm xúc (lo âu, cáu gắt) và hành vi (thay đổi giấc ngủ, giảm tập trung). Bảng ma trận tương quan giữa thâm niên dưới 5 năm (41,2%) và mức độ căng thẳng cho thấy rõ nhóm nhân sự trẻ ít kinh nghiệm ứng phó dễ rơi vào trạng thái quá tải nhất.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu của Phan Thị Mỹ Linh tại Bệnh viện đa khoa Sài Gòn, nơi hơn 50% cán bộ y tế bị stress do khối lượng công việc (69,93%) và môi trường ồn ào, đông đúc (76,23%). Tương tự, nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Nhựt Trần tại Đồng Nai ghi nhận tỷ lệ nhân viên y tế bị stress lên tới 79% (với 27% bị thường xuyên). Điều này khẳng định căng thẳng y tế là vấn đề mang tính hệ thống. Vai trò của nhân viên công tác xã hội không chỉ dừng lại ở công tác từ thiện cho người bệnh mà phải trở thành tác nhân trị liệu tâm lý, hỗ trợ đồng nghiệp vượt qua khủng hoảng tinh thần.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao đời sống tinh thần và giảm thiểu stress cho đội ngũ y bác sĩ, các giải pháp mang tính hành động cao cần được triển khai đồng bộ:

Thứ nhất, thiết lập mạng lưới tham vấn tâm lý học đường và can thiệp khủng hoảng nội viện. Ban Giám đốc cùng Phòng Công tác xã hội giữ vai trò chủ trì, hoàn thành quy trình trong quý 1 và quý 2 năm 2020. Mục tiêu là giảm 30% chỉ số căng thẳng cảm xúc cho nhân viên tại các điểm nóng như Khoa Cấp cứu và Khoa Nhi.

Thứ hai, tổ chức các câu lạc bộ và nhóm sinh hoạt giải trí định kỳ 2 tuần một lần. Nhân viên công tác xã hội phối hợp cùng Công đoàn bệnh viện điều phối các kỹ thuật thư giãn, trị liệu nghệ thuật và chia sẻ kinh nghiệm ứng phó stress, đảm bảo 100% cán bộ y tế dưới 40 tuổi tham gia trong vòng 6 tháng.

Thứ ba, cải tiến quy trình sắp xếp ca trực và điều phối nhân lực linh hoạt. Phòng Kế hoạch tổng hợp cùng Phòng Điều dưỡng rà soát định mức lao động, phấn đấu giảm tỷ lệ làm việc quá giờ xuống dưới 15% trong vòng 12 tháng, bảo đảm tỷ lệ chuẩn 1 bác sĩ có từ 2,5 đến 3 điều dưỡng theo đúng chỉ đạo ngành y tế.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông nội bộ và tập huấn kỹ năng quản trị cảm xúc. Tổ Truyền thông thuộc Phòng Công tác xã hội định kỳ tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, hóa giải xung đột với người nhà bệnh nhân, nâng tỷ lệ hiểu biết về các biện pháp ứng phó stress của cán bộ y tế lên trên 85% trong năm tiếp theo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giàu giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, Ban Giám đốc và cán bộ quản lý bệnh viện: Nắm bắt bức tranh thực tế về tình trạng kiệt sức nghề nghiệp tại một bệnh viện hạng I với 700 giường bệnh, từ đó xây dựng các chính sách đãi ngộ, cải thiện môi trường làm việc và đầu tư bài bản cho sức khỏe tâm thần của hơn 750 cán bộ nhân viên.

Thứ hai, Nhân viên công tác xã hội trong hệ thống y tế: Sử dụng quy trình can thiệp nhóm giải trí và thang đo đánh giá stress 5 mức độ như một bộ công cụ thực hành chuẩn mực, mở rộng phạm vi trợ giúp sang nhóm thân chủ đặc thù là thầy thuốc.

Thứ ba, Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Công tác xã hội, Tâm lý học, Xã hội học: Khai thác khung lý thuyết vai trò và phương pháp luận khảo sát 136 mẫu để phát triển các công trình nghiên cứu chuyên sâu về công tác xã hội lâm sàng trong bệnh viện.

Thứ tư, Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách y tế: Có thêm căn cứ dữ liệu thực tiễn để rà soát định mức nhân sự y tế theo Quyết định 1613/2002/QĐ-BYT và củng cố hướng dẫn thi hành Thông tư 43/2015/TT-BYT tại các bệnh viện tuyến tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng stress của nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông biểu hiện như thế nào? Khảo sát 136 cán bộ y tế cho thấy 62,5% có hiểu biết và biểu hiện stress ở mức tương đối với điểm trung bình 3,13. Biểu hiện thể chất phổ biến là mệt mỏi, đau đầu; về cảm xúc là lo âu và căng thẳng; biểu hiện hành vi gồm mất ngủ và giảm tập trung, tập trung nhiều nhất ở khối điều dưỡng (chiếm 51,5% mẫu).

Những nguyên nhân cốt lõi nào gây ra tình trạng căng thẳng tại bệnh viện? Nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ khối lượng công việc quá tải khi bệnh viện tiếp nhận khoảng 300.000 lượt khám mỗi năm, áp lực trực đêm kéo dài, nguy cơ xảy ra sự cố y khoa và tình trạng bạo lực từ người nhà người bệnh (chiếm 60% các vụ việc tại tuyến bệnh viện tỉnh).

Nhân viên công tác xã hội hỗ trợ cán bộ y tế giảm stress bằng cách nào? Theo Thông tư 43/2015/TT-BYT, nhân viên công tác xã hội đóng vai trò trung gian giải quyết mâu thuẫn giữa nhân viên y tế và bệnh nhân, tổ chức các nhóm công tác xã hội giải trí, cung cấp dịch vụ tham vấn tâm lý cá nhân và hỗ trợ thủ tục xã hội nhằm san sẻ gánh nặng hành chính cho y bác sĩ.

Mô hình công tác xã hội nhóm giải trí mang lại hiệu quả ra sao? Mô hình nhóm giải trí tạo môi trường an toàn để cán bộ y tế giãi bày cảm xúc, tiếp cận các bài tập thư giãn cơ và kỹ thuật cân bằng tâm lý. Kết quả thực nghiệm cho thấy hoạt động nhóm giúp cải thiện rõ rệt tinh thần làm việc, giảm cảm giác đơn độc và nâng cao trên 25% mức độ hài lòng với môi trường làm việc.

Làm thế nào để phát huy tối đa vai trò của Phòng Công tác xã hội trong bệnh viện? Cần kiện toàn cơ cấu 3 tổ chuyên môn theo Quyết định 214/QĐ-BV, bố trí nhân sự được đào tạo đúng chuyên ngành công tác xã hội, đồng thời ban hành cơ chế phối hợp liên khoa phòng nhằm chủ động nhận diện sớm các dấu hiệu kiệt sức nghề nghiệp của nhân viên y tế để can thiệp kịp thời.

Kết luận

  • Luận văn đã làm sáng tỏ thực trạng stress tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông với 62,5% cán bộ y tế ở mức độ căng thẳng tương đối, tập trung cao ở độ tuổi trẻ 26-40 (chiếm 59,5%).
  • Xác định rõ nguyên nhân gây áp lực hàng đầu xuất phát từ khối lượng chuyên môn quá tải với hơn 70.000 lượt bệnh nhân nội trú mỗi năm trong điều kiện tỷ lệ bác sĩ chỉ chiếm 20,8% mẫu khảo sát.
  • Vận dụng thành công lý thuyết vai trò để khẳng định vị trí không thể thay thế của nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ y bác sĩ.
  • Đề xuất quy trình can thiệp công tác xã hội nhóm giải trí mang tính khả thi cao, mở ra hướng tiếp cận nhân văn và bền vững cho quản trị nhân sự y tế.
  • Đóng góp nguồn tư liệu thực chứng quan trọng giúp hoàn thiện chính sách thực thi Thông tư 43/2015/TT-BYT tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi việc mở rộng mô hình tham vấn tâm lý ra 100% các khoa lâm sàng trong giai đoạn 2020-2022. Các nhà quản lý y tế và chuyên gia công tác xã hội hãy ứng dụng ngay kết quả nghiên cứu này để xây dựng môi trường làm việc an toàn, gìn giữ nguồn nhân lực y tế chất lượng cao.