Chương 1 NHÂN TO CHU QUAN Ở QUANG NINH TRONG PHAT TRIEN KINH TE - XA HOI CUA TINH HIEN NAY 1. Vấn đề nhân tố chủ quan ở Quảng Ninh 1. Khái niệm nhân tô chủ quan Mọi quá trình vận động, phat triên của xã hội diễn ra thông qua sự tác động qua lại giữa cái khách quan và cái chủ quan mà nội dung cơ bản của nó là sự tác động qua lại giữa tính quyết định của cái khách quan và tính tích cực, chủ động, sáng tao trong quá trình hoạt động cải tạo thế giới của con người. Chính trong quá trình nghiên cứu hoạt động thực tiễn của con người đã hình thành nên khái niệm nhân tổ chủ quan và điều kiện khách quan.
Do vậy để làm sáng tỏ nội dung của các khái niệm đó đòi hỏi phải đề cập đến những khái niệm có liên quan tới hoạt động của con người, đó chính là khái niệm “chủ thể” và “khách thể”. Chủ thể là một khái niệm đã được nhiều nhà triết học quan tâm nghiên cứu bởi chúng ta biết hoạt động tác động và cải tạo thế giới khách quan của con người vừa là sản phâm của hoàn cảnh, đồng thời là chủ thể của hoạt động cải tạo hoàn cảnh, từ đó hình thành nên khái niệm chủ thể. Thông qua quá trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về nội dung của khái niệm này. Có quan niệm cho rằng chủ thé là con người (cá nhân hoặc nhóm.) tiền hành hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn Một quan niệm khác cho rằng chủ thể là con người có ý thức và ý chí và đối lập với khách thể bên ngoài Qua những khái niệm ở trên cho thấy tuỳ theo cấp độ xem xét, chủ thể có thé là cả loài người, có thé là một nhóm, một giai cấp, một đảng phái.
đang thực hiện một quá trình hoạt động nhằm cải tạo khách thể tương ứng. § Chỉ có tác động vao thé giới xung quanh (vào giới tự nhiên và đời sống xã hội). chỉ có thông qua hoạt động. con người mới bộc lộ mình như là chủ thê.
Vì vậy khái niệm chủ thé có thé được hiểu là: Chủ thé - đó là con người nhận thức và cải tao thế giới xung quanh. cũng như chính bản thân mình. Với quan niệm như vậy, con người với tư cách là chủ thê. là con người thực tiễn.
con người hành động mà đặc trưng cơ bản nhất là có năng lực hoạt động sáng tạo nhằm cải tạo khách thé. Biểu hiện về năng lực sáng tạo của chủ thé đó là việc lựa chọn hình thức, phương pháp, sử dụng được các công cụ và phương tiện của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm đạt được mục đích đề ra. Khái niệm “chu thé” có mối quan hệ chặt chẽ với khái niệm “khách thể”. Khách thẻ - đó là đối tượng của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của chủ thẻ.
Khách thê không phải là toàn bộ thê giới hiện thực, nó chỉ bao quát một bộ phận nhất định của hiện thực đã và đang tác động qua lại với chủ thể và chịu sự tác động của chủ thê xác định. Có thể nói cách khác là tùy từng cấp độ xác định về chủ thể chúng ta có thé xác định khách thể. Có khách thé được hiểu như một bộ phận vật chất được thu hút vào hoạt động của con người, mặt khác bao gồm thực tại chủ quan (quan hệ với ý thức, tư tưởng.) không phụ thuộc vào các chủ thể và một bộ phận các sản phẩm của hoạt động trước đó của chủ thể cũng gia nhập và trở thành khách thể. Như vậy do hiện thực khách quan hết sức phong phú, từ đó khách thể và những bộ phận của nó cũng rất đa dạng, phong phú.
Có thể hiểu khái quát về khách thể và chủ thể như sau: khách thể là tắt cả những gì chủ thể tác động vào nó, chủ thể là con người với những cấp độ tồn tại khác nhau của nó. đang thực hiện hoạt động nhằm tác động vào khách thể. Khách thể và chủ thể có quan hệ biện chứng với nhau nên chúng chỉ tồn tại với tư cách là tiền đề của nhau: khách thé tồn tại không phụ thuộc vào chủ thé, song khách thé không đối lập trừu tượng với chủ thẻ vì chủ thé luôn hướng và cải tạo khách thé bang hoạt động của mình: hon nữa. chủ thé luôn có xu hướng “khách thể hoá” thông qua hoạt động của bản thân mình.
Chủ thê và khách thể có tính độc lập tương đối trong quá trình tương tác lẫn nhau. Song, khi xem xét chúng trong hoạt động của con người thì tính độc lập giữa chúng chỉ có ý nghĩa tương đối. Trong sự tác động lẫn nhau. chủ thể là mặt chủ động so với khách thẻ, nhưng tính tích cực, sáng tạo của chủ thé lại bị quy định bởi sự hiểu biết của chủ thê về khách thể.
Nội dung của sự hiểu biết này là do khách thể quy định và khi khách thể được cải tạo thì bản thân chủ thể cũng có thêm kiến thức, kinh nghiệm và phương pháp hoạt động cho mình. Trong sự tương tác lẫn nhau này, khách thể được cải tạo còn chủ thể được tăng cường, được phát triển và lớn lên về mọi mặt. Hơn nữa, trong hoạt động của con người ở một thời kỳ lịch sử nhất định, bất kỳ chủ thẻ lịch sử nào cũng đồng thời là khách thể của chủ thể khác. Đó là do hoạt động của con người không phải là sự tác động của con người vào thé giới bên ngoài ma còn là sự tác động lẫn nhau.
Trong sự tác động qua lại giữa người với người, mỗi người vừa là chủ thể, vừa là khách thẻ. Khi xem xét hoạt động của con người, người ta không chỉ nghiên cứu khái niệm chủ thể và khách thể mà còn nghiên cứu khái niệm “nhân tố chủ quan” và “điều kiện khách quan”. Bởi vì các khái niệm điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan được dùng không phải dé lý giải cấu trúc xã hội như khái niệm yếu tố, mà là để phản ánh quá trình vận động, biến đổi, phát triển của là no. 10 Về phạm trù nhân tổ chủ quan đã có nhiều quan điểm với những nội dung và mức độ khái quát khác nhau.
Điều đó nói lên tính phức tạp của việc nghiên cứu nội dung phạm trù này. Có ý kiến đồng nhất nhân tô chủ quan với hoạt động có ý thức của con người nói chung. “Nhân tố chủ quan trong sự phát triển xã hội là hoạt động có ý thức của những con người. những giai cấp.
những chính đảng sáng tạo ra lich sử” [47, tr. Chúng ta biết rằng hoạt động có ý thức của con người không chỉ bị quy định bởi nhân tố khách quan mà còn chịu sự tác động của nhân tố chủ quan. Chỉ có thể hiểu một cách đúng dan nhân tố chủ quan của hoạt động trong mỗi liên hệ với nhân tố khách quan của nó. Chính vì vậy định nghĩa nhân tố chủ quan ở trên đã không cho phép làm rõ đặc trưng của nhân tố chủ quan.
Có quan niệm lại đồng nhất nhân tố chủ quan với ý thức, tư tưởng xã hội hay hoạt động tự giác của con người. Cũng có quan điểm coi nhân tố chủ quan bao gồm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cả lĩnh vực vật chất và lĩnh vực tỉnh thần. Những quan niệm trên đây đều có giá trị và tính hợp lý ở chỗ đã chỉ ra vai trò của ý thức, tính tự giác trong hoạt động của con người. Tuy nhiên, nếu đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động có ý thức của con người, hoặc giới hạn nhân tố chủ quan với hoạt động tự giác của con người thì chưa thật đầy đủ bởi vì hoạt động của con người như ở trên đã nói không chỉ thuần tuý thuộc về nhân tố chủ quan mà còn bị chi phối và quy định của điều kiện khách quan.
Một số tác giả đã có gắng tìm một con đường khác dé thể hiện nhân tố chủ quan. Nhân tố chủ quan là biểu hiện tích cực của chủ thể trong trạng thái lưu động, trong quá trình sáng tạo, trong sự biểu hiện sống. hay nói cách khác đó là lao động sống. Tuy nhiên, hiểu như vậy cũng chưa đầy đủ bởi bản thân tính tích cực của chủ thé hay bản thân lao động sống tự nó chưa thể hiện 11 được sức mạnh của con người.
nếu quan niệm nhân tô chủ quan như vậy sẽ không khăng định được vai trò và sức mạnh của yeu tố tự giác. tính tô chức và kỷ luật của con người trong xã hội cũng như vị trí. vai trò của các yêu tố đó trong cơ chế tác động. cơ chế vận dụng và trong sự hoạt động của quy luật xã hội.
Vậy đâu là thực chat của van đề nhân tố chủ quan? Theo chúng tôi. nói tới nhân tố chủ quan trước hết chúng ta cần đề cập tới đặc trưng cơ bản của nó là “tính tích cực, tính sáng tạo "của chủ thé hoạt động. Triết học Mác - Lénin chỉ ra rang, con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh nhưng đồng thời là chủ thê của hoàn cảnh đó. Do đó, khi đặt con người đối diện với giới tự nhiên, chúng ta có khái niệm con người.
Khi đặt con người trong trạng thái đang tích cực hoạt động trước một đối tượng cần nhận thức và cải tạo nó theo một mục đích nhất định thì lúc đó, chúng ta có khái niệm chủ thẻ đối lập với khách thẻ. Còn khi xem xét con người - với tất cả chủ thé, với tất cả các nhân tố tạo thành tính tích cực của chủ thể (các nhân tố vừa là nguyên nhân, vừa là điều kiện của mọi hoạt động tích cực, sáng tạo của chủ thể) chúng ta có khái niệm nhân tô chủ quan và đối lập với nó là điều kiện khách quan [5], tr. Qua sự phân tích ở trên, chúng ta thấy van đề nhân tố chủ quan trong lịch sử dù người ta tiếp cận việc giải quyết nó về phương diện nào và ở cách tiếp cận nào thì việc nhận thức nó phải thông qua sự phân tích đặc trưng về chất của những chủ thể lịch sử. Song, chúng ta cần lưu ý rằng không phải bản thân các chủ thể lịch sử đó đóng vai trò nhân tố chủ quan mà những thuộc tính, những phẩm chất, những trạng thái của chủ thể biểu hiện trong hoạt động đó đóng vai trò nhân tố chủ quan.
Những phẩm chất, những thuộc tính của chủ thể là nhân tố chủ quan, là những yếu tố cần thiết để tạo ra khả năng tích cực, sáng tạo của chủ thể.