Đặt vấn đề Việt Nam được xác định là một trong tám nước cội nguồn của cây chè, có điều kiện địa hình, đất đai, khí hậu phù hợp cho cây chè phát triển và cho chất lượng cao. Hiện nay sản phẩm chè của Việt Nam đã có mặt tại 118 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó thương hiệu “Che Viet” đã được đăng ký và bảo hộ tại 77 thị trường quốc gia và khu vực. Việt Nam đang là quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới về sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu chè. Trong quá trình phát triển, chè đã khẳng định được vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là cây trồng chủ lực góp phần xóa đói giảm nghèo, thậm chí còn giúp người dân vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao làm giàu.
Và cây chè còn giúp phủ xanh đất trống, đồi trọc, cải tạo đất, tăng độ phì từ đó góp phần bảo vệ môi trường. Đã từ lâu, cây chè được xác định là thế mạnh của Thái Nguyên, đem lại hiệu quả kinh tế cao, giải quyết được vấn đề việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện cuộc sống người dân. Bên cạnh đó sản phẩm chè đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chiếm vị trí quan trọng. Sau hơn 10 năm thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ của tỉnh Thái Nguyên cho sản xuất chè đã tạo nên sự chuyển biến rõ rệt từ khâu giống, kỹ thuật chăm sóc, chế biến từ đó chất lượng chè đã được nâng lên.
Giai đoạn 2006 - 2010, diện tích chè toàn thành phố liên tục được mở rộng, năm 2010 diện tích chè là 1.302,9 ha, tăng 1,8 lần so với năm 2006, hình thành nên vùng chuyên canh trọng điểm như: Tân Cương, Phúc Xuân, Phúc Trìu, Quyết Thắng. Trong quá trình hình thành các vùng chuyên canh chè, nhiều HTX chè cũng được hình thành ở nhiều nơi. Phát triển mô hình HTX chè an toàn được xem là một hướng đi mới để nâng 2 cao giá trị cây chè, đem lại thu nhập cao cho người dân, nhằm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường cũng như tạo điều kiện để giúp đỡ lẫn nhau theo mô hình HTX. Tuy nhiên số lượng các hợp tác xã chè còn rất ít, phổ biến vẫn là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu dẫn đến việc sản xuất kinh doanh chưa đạt hiệu quả.
Từ sản xuất đến tiêu thụ còn nhiều vấn đề bất cập như chưa giải quyết được vấn đề đầu ra ổn định cho sản phẩm chè, năng lực quản lý cũng như hoạt động kinh tế tập thể cnhiều yếu kém, chưa phát huy được vai trò của nền kinh tế tập thể. Để nghiên cứu tình trạng trên và đưa ra các giải pháp nhằm phát huy vai trò của HTX và các hình thức kinh tế hợp tác trong quá trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên việc lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu vai trò của hợp tác xã trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn tại xã Phúc Xuân – Thành phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên” trong giai đoạn hiện nay là cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng và vai trò HTX trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn, từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình kinh tế hợp tác trên địa bàn xã Phúc Xuân – Thành phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên.
Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu thực trạng sản xuất và tiêu thụ của HTX trong sản xuất chè an toàn trên địa bàn xã Phúc Xuân – Thành phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên. - Đánh giá được vai trò của HTX đối với hộ trong sản xuất kinh doanh chè an toàn trên địa bàn xã Phúc Xuân – Thành phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên. 3 - Đề xuất được một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn. Ý nghĩa khoa học của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và khoa học - Quá trình thực hiện đề tài là cơ hội để củng cố, áp dụng kiến thức đã học trong nhà trường vào thực tiễn, đồng thời nâng cao kiến thức, năng lực và kỹ năng nghiên cứu khoa học cho bản thân. - Là căn cứ khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo.2 Ý nghĩa thực tiễn. - Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp nhận thấy rõ vai trò của HTX trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn. - Làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến vai trò của HTX trong sản xuất và tiêu thụ chè an toàn 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Một số khái niệm cơ bản về chè 2. Khái niệm về chè an toàn Chè an toàn là sản phẩm chè được sản xuất phù hợp với các quy trình đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm có trong VietGAP hoặc các tiêu chuẩn tương đương VietGAP, được chế biến theo quy trình chế biến chè an toàn do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành và mẫu điển hình đạt chỉ tiêu an toàn thực phẩm. UTZ Certufied là chương trình chứng nhận toàn cầu trong lĩnh vực cấp chứng chỉ sản xuất các sản phẩm tốt, có trách nhiệm, truy nguyên nguồn gốc, an toàn thực phẩm và bền vững trong ba lĩnh vực: Kinh tế - Môi trường – Xã hội. Nhiệm vụ của UTZ Certified là để tạo ra một thế giới nơi mà nông nghiệp bền vững là tiêu chuẩn, nơi nông dân thực hiện các thực hành nông nghiệp tốt và quản lý trang trại của họ mang lại lợi nhuận với sự tôn trọng con người và hành tinh của ngành công nghiệp.
Khái niệm sản xuất Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm? Tùy theo sản phẩm, sản xuất được phân thành ba khu vực: - Khu vực một của nền kinh tế: Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản. 5 - Khu vực hai của nền kinh tế: Khai thác mỏ, công nghiệp chế tạo (công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng), xây dựng. - Khu vực ba của nền kinh tế, hay khu vực dịch vụ.
Khái niệm tiêu thụ Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tiêu thụ sản phẩm là thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá, là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng. Nó là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian giữa một bên là sản xuất và phân phối và một bên là tiêu dùng. Thích ứng với mỗi cơ chế quản lí, công tác tiêu thụ sản phẩm được quản lí bằng các hình thức khác nhau.
Vai trò của cây chè Cây chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao. Nó có vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt và đời sống kinh tế, văn hóa của con người. Sản phẩm chè có rất nhiều tác dụng như kích thích thần kinh làm cho tinh thần minh mẫn, tăng cường hoạt động của cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, tăng sức đề kháng cho cơ thể… Sản phẩm chè không chỉ phục vụ trong nước mà còn là mặt hàng xuất khẩu đóng góp nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế nước ta. Cây chè đem lại nguồn thu nhập cao và ổn định cho người dân, cải thiện đời sống kinh tế,văn hóa, xã hội và tạo ra công ăn việc làm cho lực lượng lao động dư thừa.
Chè là cây trồng sinh trưởng tốt ở Trung Du và Miền Núi, loại cây trồng này ngoài việc giúp người dân nâng cao thu nhập còn giúp cải tạo môi trường, phủ xanh, chống xói mòn đất. Như vậy, việc phát triển cây chè hoàn toàn phù hợp với các vùng Trung Du và Miền Núi phía Bắc. Giúp nâng cao hiệu quả kinh tế, giải quyết vấn đề việc làm cho khu vực nông thôn hiện nay. Vai trò của sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè Sản phẩm chè đã và đang là nhu cầu phổ biến của nhiều quốc gia trên thế giới, nhiều quốc gia sử dụng chè sau chế biến như là một nhu cầu thiết yếu.
Điều đó đã được khẳng định ở thị trường tiêu thụ chè đen ở Liên Xô trước đây cũng như là các quốc gia: Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Irac, Ấn Độ… Trong quá trình phát triển, cây chè đã tự khẳng định được vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Sản phẩm chè không chỉ là nguồn hàng hóa phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn. Sản xuất tiêu thụ chè góp phần quan trọng trong xóa đói, giảm nghèo, giải quyết lao động việc làm, tạo thu nhập ổn định cho người nông dân, khai thác hiệu quả sức lao động hộ nông dân. Phát triển sản xuất chè ở Trung Du và Miền Núi góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, hạn chế xói mòn, cải tạo đất, tăng độ phì, góp phần bảo vệ phát triển một nền nông nghiệp bền vững.
Sản xuất, tiêu thụ chè mang lại thu nhập cao hơn các loại cây trồng khác. Phát triển sản xuất, tiêu thụ chè tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hội nhập. Việc xuất khẩu chè dưới dạng chè thành phẩm như chè đen, chè vàng, chè xanh chất lượng cao cho phép các quốc gia sản xuất, tiêu thụ chè có điều kiện trao đổi hàng hóa, chuyển giao công nghệ với các quốc gia đối tác. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ chè.
Cây chè có yêu cầu khá cao trong sản xuất từ khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch đến chế biến và bảo quản. Vì vậy, muốn có sản phẩm chè chất lượng cần phải chú ý từng khâu sản xuất, loại bỏ các phương thức sản xuất lạc hậu. Cần phải thực hiện sản xuất theo hướng chuyên môn hóa để nâng cao năng 7 suất, chất lượng sản phẩm, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống người dân trồng chè. Những nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè: Nhân tố tự nhiên - Đất đai và địa hình: Đất đai là nhân tố quyết định đến sản lượng và phẩm chất cây chè.