Chương 1: Giảng dạy các môn lý luận chính trị với quá trình hình thành và phát triển thế giới quan khoa học cho sinh viên Chương 2: Giảng dạy các môn lý luận chính trị với việc hình thành thế giới quan khoa học cho sinh viên CĐSP Nam Định - thực trạng và những vấn đề đặt ra Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp giáo dục thế giới quan khoa học cho sinh viên CĐSP Nam Định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 GIẢNG DẠY CÁC MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VỚI QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC CHO SINH VIÊN 1.1 Vai trò của thế giới quan khoa học đối với con ngƣời nói chung và sinh viên CĐSP nói riêng 1.1 Vai trò của thế giới quan khoa học đối với sự phát triển con người 1.1 Thế giới quan khoa học Thế giới quan xuất hiện từ rất sớm ngay từ thời nguyên thuỷ và cho tới nay nó có nhiều định nghĩa khác nhau. Song có thể nói, thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về vị trí của con người trong thế giới ấy. Trong thế giới quan, những yếu tố cảm xúc và trí tuệ, niềm tin và tri thức hoà quyện vào nhau. Rõ ràng, thế giới quan không tự nhiên mà có.
Nó được hình thành trên cơ sở hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người. Nó luôn được bổ sung, hoàn thiện, phát triển cùng quá trình phát triển của thực tiễn xã hội. Do đó, Thế giới quan có những đặc điểm cơ bản sau: (1) Thế giới quan phát triển cùng với sự phát triển của con người và xã hội thông qua hoạt động của mình. (2) Thế giới quan luôn có mối quan hệ con người với thế giới.
Sự hiểu biết đúng đắn mối quan hệ đó sẽ định hướng và chỉ đạo hoạt động của con người phù hợp với hiện thực luôn luôn vận động và phát triển nhằm thoả mãn ngày càng cao nhu cầu và lợi ích của con người cũng như của xã hội. (3) Thế giới quan là sản phẩm tinh thần của con người, phản ánh hiện thực thông qua nhận thức, nhu cầu, lợi ích của cá nhân, của những tập đoàn người hay của toàn xã hội. (4) Thế giới quan phụ thuộc vào trình độ nhận thức, nhu cầu, lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi nhóm người, mỗi tập đoàn người và của toàn xã hội. Do đó, trong mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi xã hội, mỗi dân tộc, mỗi giai cấp có thể tồn tại nhiều thế giới quan khác nhau.
Thế giới quan có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của mỗi người, mỗi giai cấp, cộng đồng người và của cả loài người. Nó giúp con người định hướng đúng trong cuộc sống, xác lập được nhân sinh quan đúng đắn, tích cực. Trên cơ sở đó, con người xác định đúng thái độ, cách thức hoạt động và cách sống của riêng mình. Khi xác định đúng được mục tiêu, lý tưởng, hoài bão, ước mơ con người mới phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng, hoài bão, ước mơ đó.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thế giới quan còn giúp con người định hướng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Đối với nhận thức, thế giới quan giúp con người xác định xem con người có khả năng nhận thức thế giới hay không. Trên cơ sở đó, con người mới tin vào sức mạnh nhận thức thế giới của mình hay không, mới có các giải pháp để nhận thức thế giới hiệu quả nhất. Đối với hoạt động thực tiễn thế giới quan giúp con người tự giác, chủ động xác định tính hướng đích trong hoạt động thực tiễn.
Do vậy, tránh được mò mẫm, tự phát, chệch hướng, vô định. Thế giới quan giúp con người xác định đúng mối quan hệ của bản thân với người khác trong xã hội. Trên cơ sở đó giúp con người điều chỉnh những quan hệ qua lại giữa người với nhau và hành vi của bản thân sao cho phù hợp với mục tiêu chung của xã hội và phù hợp quy luật khách quan của sự phát triển xã hội. Thế giới quan là sự thống nhất hữu cơ giữa tri thức, niềm tin, lý trí và tình cảm.
Tri thức là sự hiểu biết sâu sắc của con người về thế giới, là kết quả của quá trình hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn đúng đắn của con người, là sự phản ánh của thế giới khách quan của con người. Tri thức có nhiều loại khác nhau, trong đó có tri thức về tự nhiên, về xã hội và về con người. Sự hình thành và phát triển tri thức là một quá trình, thông qua toàn bộ hoạt động sống của con người. Tri thức có thể được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Tuy nhiên, bản thân tri thức chưa trở thành thế giới quan. Tri thức chỉ gia nhập vào thế giới quan khoa học khi nó chuyển thành niềm tin khoa học của con người. Chỉ khi đó thì tri thức mới trở nên bền vững và sâu sắc, mới có giá trị định hướng cho hoạt động của con người. Niềm tin là một trạng thái tâm lý, tinh thần đặc biệt được phát triển trên cơ sở của tri thức.
Nó là động lực thúc đẩy khát vọng nhận thức và cải tạo hiện thực của con người. Niềm tin có thể chia làm hai loại: (1) niềm tin mù quáng. (2) niềm tin khoa học. Niềm tin chính là động lực mạnh mẽ, giúp cho mỗi con người có nghị lực phi thường, có thể vượt qua những giây phút hiểm nguy, giám hy sinh tính mạng vì mục tiêu lý tưởng mà mình đã theo đuổi.
Thế giới quan thể hiện trí tuệ của con người, thể hiện trình độ tương đối cao của lý trí, bởi vì lý trí dựa trên cơ sở hiểu biết của con người với tư cách là một chỉnh thể và sự thống nhất những biểu hiện muôn màu, muôn vẻ trong hoạt động của con người. Lý trí của con người là sự thống nhất chặt chẽ giữa niềm tin và tri thức. Lý trí không tách rời tình cảm mà gắn bó khăng khít, mật thiết tình cảm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tình cảm là hình thức phản ánh đặc biệt mối quan hệ của con người về thế giới và quan hệ của con người với nhau, thể hiện thái độ của con người về những tác động của thế giới đối với bản thân.
Vì vậy, tình cảm góp phần củng cố lý trí, làm cho lý trí có thêm sức mạnh. Như vậy, từng yếu tố đơn lẻ trên không phải là thế giới quan. Thế giới quan cũng không phải là số cộng giản đơn của các yếu tố đó. Trong thế giới quan có sự thống nhất hữu cơ, biện chứng giữa tri thức, niềm tin, lý trí và tình cảm, là sự thể hiện toàn bộ sự hiểu biết và kinh nghiệm sống, hoạt động của con người.
Thế giới quan sử dụng chủ nghĩa Mác – Lênin làm cơ sở lý luận của mình được gọi là thế giới quan Mácxit hay thế giới quan cộng sản chủ nghĩa. Thế giới quan đó còn được gọi là thế giới quan khoa học, bởi vì nó phản ánh đúng đắn những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy con người dựa trên cơ sở của các thành tựu khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, đồng thời đã được thực tiễn kiểm nghiệm. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, thế giới quan cũng phát triển và đã được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó rõ rệt nhất đã trải qua ba hình thức sau: Một là, thế giới quan huyền thoại. Xuất hiện trong buổi bình minh của lịch sử loài người.
Đó là sự cảm nhận thế giới rất đặc trưng của người nguyên thuỷ. Nó phản ánh những quan niệm của người nguyên thuỷ về thế giới. Mỗi dân tộc có những huyền thoại để giải thích về nguồn gốc dân tộc mình; nguồn gốc của những hiện tượng tự nhiên như trái đất, bầu trời, sấm, sét, mây mưa, nhật thực, nguyệt thực. Chẳng hạn như thần thoại Hy Lạp; huyền thoại về Sơn Tinh, Thuỷ Tinh; Lạc Long Quân, Âu Cơ của Việt Nam.
Trong thế giới quan huyền thoại, các yếu tố thực và ảo (tưởng tượng), cảm xúc và trí tuệ, lý trí và niềm tin, cái người và cái thần hoà quyện vào nhau, chưa phân biệt rõ. Hai là, thế giới quan tôn giáo. Đó là hình thức phản ánh thế giới khách quan một cách hư ảo, là sự giải thích thế giới trên cơ sở thừa nhận sự sáng tạo ra thế giới bởi lực lượng siêu nhiên, thần thánh. Trong thế giới quan tôn giáo, niền tin tôn giáo đóng vai trò chi phối đối với lý trí, cái ảo lấn át cái thực, cái thần lấn át cái người.
Mặc dù vậy, thế giới quan tôn giáo cũng phản ánh khát vọng của con người muốn được giải phóng khỏi những bất công, đau khổ, muốn vươn tới thế giới hạnh phúc, ấm no. Đồng thời, thế giới quan tôn giáo cũng phản ánh trình độ phát triển thế giới quan nhất định của con người. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ba là, thế giới quan triết học. Đó là hình thức phản ánh thế giới quan bằng hệ thống các khái niệm, nguyên lý, phạm trù, quy luật.
Nếu thế giới quan huyền thoại, yếu tố biểu tượng cảm tính giữ vai trò chi phối; trong thế giới quan tôn giáo yếu tố niềm tin giữ vai trò chủ đạo, thì trong thế quan triết học, yếu tố tư duy lý tính đóng vai trò chủ đạo. Thế giới quan triết học đã chứng minh những quan niệm của mình bằng những lập luận logic, bằng tư duy logic. Vấn đề cơ bản của thế giới quan khoa học cũng chính là vấn đề cơ bản của triết học.Ăngghen "Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ tư duy với tồn tại". Trên cơ sở cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học mà người ta phân biệt các hình thức thế giới quan triết học.
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt, mỗi mặt phải trả lời cho một câu hỏi lớn: Mặt thức nhất: Giữa tư duy và tồn tại, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Mặt thức hai: Tư duy của con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Trả lời cho hai câu hỏi này sẽ quyết định tới việc hình thành thế giới quan triết học cũng như các học thuyết về nhận thức khác nhau. Giải quyết mặt thức nhất trong vấn đề cơ bản của triết học gắn liền với việc phân định các trường phái triết học. Có hai trường phái lớn.