Tổng quan nghiên cứu

Thế hệ thanh niên Việt Nam hiện chiếm khoảng 35,6% dân số và đóng góp hơn 50% lực lượng lao động xã hội. Đây là lực lượng nòng cốt quyết định sự thành bại của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tại tỉnh Nam Định, địa phương có diện tích 1.637,4 km² với quy mô dân số xấp xỉ 2 triệu người và 74% dân cư làm nông nghiệp, công tác đào tạo đội ngũ giáo viên tương lai tại Trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định giữ vị trí then chốt. Tuy nhiên, trước tác động phức tạp từ mặt trái của cơ chế thị trường và chiến lược diễn biến hòa bình, một bộ phận sinh viên đang xuất hiện lối sống thực dụng, phai nhạt lý tưởng và dao động về mặt thế giới quan.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là đánh giá toàn diện vai trò của các môn Lý luận chính trị, đặc biệt là môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin theo Quyết định số 52/2008/QĐ-BGDĐT, trong việc xây dựng thế giới quan khoa học cho sinh viên sư phạm. Mục tiêu cụ thể nhằm phân tích thực trạng giảng dạy trong giai đoạn 2003 - 2010, chỉ ra những rào cản về phương pháp, đội ngũ và nhận thức của người học. Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn tại Trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định qua 6 khóa đào tạo từ khóa 25 đến khóa 30. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc đề xuất hệ thống giải pháp nâng tỷ lệ sinh viên đạt kết quả học tập khá giỏi từ mức 32,15% lên trên 45%, đồng thời kéo giảm tỷ lệ yếu kém từ 29,14% xuống dưới 15%, tạo tiền đề vững chắc cho việc chuẩn hóa nhân cách người giáo viên nhân dân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử do C.Mác, Ph.Ăngghen sáng lập vào những năm 40 của thế kỷ XIX và được V.I.Lênin phát triển. Đồng thời, đề tài kế thừa sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận chính trị nhằm đào tạo thế hệ trẻ vừa có đức vừa có tài.

Mô hình nghiên cứu xem xét thế giới quan khoa học như một chỉnh thể thống nhất gồm 4 yếu tố cấu thành cốt lõi: tri thức khoa học, niềm tin lý tưởng, lý trí và tình cảm cách mạng. Trong cấu trúc này, tri thức đóng vai trò tiền đề nhưng chỉ khi chuyển hóa thành niềm tin khoa học thì mới có giá trị định hướng hành vi thực tiễn. Nghiên cứu tập trung làm rõ 3 khái niệm trung tâm bao gồm: thế giới quan khoa học (thế giới quan duy vật biện chứng), nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa và phương pháp tư duy biện chứng. Các khái niệm này định hướng sinh viên nhận thức đúng đắn quy luật phát triển tự nhiên, xã hội và tư duy, khắc phục triệt để tư duy siêu hình và các quan điểm duy tâm.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của công trình được tổng hợp từ báo cáo quản lý đào tạo của Trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định qua 6 khóa học liên tục (từ khóa 25 năm học 2003 - 2004 đến khóa 30 năm học 2009 - 2010) với tổng quy mô 1.494 sinh viên, kết hợp dữ liệu điều tra thực tế.

Cỡ mẫu khảo sát gồm N = 288 sinh viên thuộc 9 lớp chuyên ngành của khóa 30 (Toán, Tin học, Công nghệ thiết bị, Hóa - Sinh, Âm nhạc, Mỹ thuật, Ngữ văn, Tiếng Anh, Giáo dục Tiểu học) cùng 10 giảng viên bộ môn Lý luận chính trị (7 giảng viên cơ hữu và 3 giảng viên thỉnh giảng). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên theo từng ngành học nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các khối tự nhiên, xã hội và nghệ thuật. Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích - tổng hợp, lịch sử - logic, trừu tượng hóa khoa học và thống kê mô tả. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác tỷ lệ kết quả học tập (khá giỏi 32,15%, trung bình 38,71%, yếu kém 29,14%), đồng thời phân tích sâu sắc các mối quan hệ nhân quả giữa điều kiện kinh tế - xã hội địa phương với sự hình thành thế giới quan của sinh viên.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực chứng tại Trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, kết quả học tập các môn Lý luận chính trị của sinh viên qua 6 khóa học chưa có sự bứt phá và tỷ lệ phân hóa còn lớn. Tỷ lệ sinh viên xếp loại khá giỏi dao động ở mức khiêm tốn từ 30,47% đến 36,29% (khóa 26 đạt 36,29%, khóa 30 đạt 32,15%). Trong khi đó, tỷ lệ sinh viên xếp loại yếu kém luôn chiếm tỷ trọng cao từ 26,16% đến 36,05% (khóa 27 lên tới 36,05% và khóa 30 là 29,14%).

Thứ hai, mức độ chuyên cần và ý thức tự học giáo trình trước khi lên lớp của sinh viên còn rất hạn chế. Khảo sát 288 sinh viên khóa 30 cho thấy sự chênh lệch lớn giữa các ngành. Lớp Hóa - Sinh có 29 trên tổng số 38 sinh viên (chiếm 76,32%) hoàn toàn không đọc giáo trình trước giờ học; lớp Toán có 10 trên 28 sinh viên (chiếm 35,71%) không chuẩn bị bài. Ngược lại, khối ngành xã hội có sự chuẩn bị tốt hơn như lớp Ngữ văn có 16 trên 42 sinh viên (chiếm 38,10%) đọc kỹ tài liệu.

Thứ ba, đội ngũ giảng viên gặp tình trạng quá tải nghiêm trọng và thiếu hụt trình độ sau đại học. Trong năm học 2009 - 2010, trường có 7 giảng viên cơ hữu nhưng có đến 6 cử nhân và chỉ 1 thạc sĩ (tỷ lệ chưa đạt chuẩn sau đại học chiếm 85,71%). Giảng viên phải giảng dạy từ 400 đến 500 tiết mỗi năm, cá biệt có giảng viên đảm nhận tới 800 tiết một năm, vượt từ 42,86% đến 185,71% so với định mức chuẩn 280 tiết/năm.

Thứ tư, môi trường sinh hoạt xã hội và tôn giáo có tác động mạnh mẽ đến nhận thức của người học. Tỷ lệ sinh viên theo đạo Công giáo tại trường chiếm khoảng 12%. Theo số liệu khảo sát xã hội học trên địa bàn tỉnh, 26,8% sinh viên đi lễ chùa với tần suất 1 đến 2 lần mỗi tháng và 28,5% đi khi có thời gian rảnh rỗi.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ việc đổi mới tích hợp chương trình theo Quyết định số 52/2008/QĐ-BGDĐT khiến dung lượng kiến thức trở nên cô đọng, trừu tượng trong khi quỹ thời gian bị rút ngắn. Đa số giảng viên vẫn áp dụng phương pháp thuyết trình một chiều truyền thống (chiếm hơn 80% thời lượng) do thiếu phương tiện kỹ thuật và thiếu thời gian đầu tư giáo án khi phải dạy vượt giờ liên tục. Về phía sinh viên, tâm lý coi các môn Lý luận chính trị là môn phụ cùng áp lực việc làm sau khi ra trường khiến mức độ đầu tư học tập bị suy giảm.

Để minh họa trực quan, các dữ liệu nghiên cứu có thể được thể hiện qua biểu đồ cột chồng so sánh cơ cấu xếp loại học lực (khá giỏi, trung bình, yếu kém) xuyên suốt từ khóa 25 đến khóa 30, kết hợp biểu đồ tròn phân tích cơ cấu chuẩn bị bài của sinh viên 9 ngành học. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công bố khoa học trong ngành về sự suy thoái đạo đức và lối sống thực dụng trong một bộ phận giới trẻ dưới tác động của kinh tế thị trường, khẳng định tính cấp thiết phải tái cấu trúc toàn diện quy trình dạy và học.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá: Bộ môn Lý luận chính trị cần chuyển dịch từ lối truyền thụ độc thoại sang tương tác đa chiều, bắt buộc nâng thời lượng thảo luận chuyên đề (xêmina) lên mức tối thiểu 30% tổng thời lượng môn học. Đơn vị cần áp dụng ngân hàng câu hỏi kết hợp 50% trắc nghiệm khách quan và 50% tự luận giải quyết tình huống thực tiễn, đặt mục tiêu trong 12 tháng giảm tỷ lệ sinh viên yếu kém xuống dưới 15%.
  2. Quy hoạch và chuẩn hóa đội ngũ giảng viên: Đảng ủy và Ban Giám hiệu nhà trường phối hợp cùng Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị cử 100% giảng viên trình độ cử nhân (6 cán bộ) tham gia đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ. Lộ trình đến năm 2015 phấn đấu đạt 100% giảng viên đạt chuẩn sau đại học, đồng thời tuyển dụng bổ sung để đưa định mức giảng dạy về mức chuẩn dưới 350 tiết/năm.
  3. Hiện đại hóa cơ sở vật chất và nguồn học liệu: Phòng Quản trị thiết bị đầu tư trang bị máy chiếu, máy vi tính cho 100% phòng học chuyên dùng, bổ sung hơn 500 đầu sách tham khảo chuyên ngành tại thư viện giai đoạn 2011 - 2013, bảo đảm 100% sinh viên có đủ giáo trình trước khi bước vào năm học mới.
  4. Gắn kết giáo dục lý luận với hoạt động thực tiễn xã hội: Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên xây dựng định kỳ 2 chương trình tham quan thực tế mỗi năm tại các di tích lịch sử như Khu di tích Đền Trần hay Vườn quốc gia Xuân Thủy, phấn đấu thu hút trên 90% đoàn viên tham gia các phong trào tình nguyện hè, biến tri thức lý luận thành niềm tin và hành động cách mạng cụ thể.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Ban Giám hiệu và các nhà quản lý giáo dục đại học, cao đẳng: Sử dụng tài liệu để hoạch định chính sách phân bổ giờ giảng, xóa bỏ tình trạng giảng viên dạy quá tải từ 400 đến 800 tiết/năm và xây dựng đề án nâng cao tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học lên mức 100%.
  2. Giảng viên trực tiếp giảng dạy các môn Lý luận chính trị: Khai thác khung thiết kế giáo án thực nghiệm, phương pháp tổ chức 30% thời lượng xêmina và kỹ năng liên hệ thực tiễn xã hội địa phương nhằm thu hút sự chú ý của sinh viên.
  3. Cán bộ quản lý Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên: Ứng dụng mô hình giáo dục tư tưởng thông qua phong trào hành động thực tế, giúp tăng tỷ lệ sinh viên tham gia sinh hoạt chính trị thường xuyên từ mức 60% lên trên 90%.
  4. Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Triết học, Giáo dục học: Sử dụng nguồn số liệu thực chứng (mẫu N = 288 sinh viên, dữ liệu 6 khóa học liên tiếp) làm cơ sở dữ liệu đối sánh cho các công trình nghiên cứu về hình thái thế giới quan của thanh niên nông thôn đồng bằng Bắc Bộ.

Câu hỏi thường gặp

  1. Mục tiêu cốt lõi của việc giáo dục thế giới quan khoa học cho sinh viên sư phạm là gì? Mục tiêu là trang bị hệ thống phương pháp luận duy vật biện chứng vững vàng, giúp sinh viên có nhãn quan khoa học để giải thích đúng các biến động xã hội. Tại Nam Định, nơi có 12% sinh viên theo đạo Công giáo và hơn 50% thanh niên đi lễ chùa thường niên, thế giới quan khoa học là nền tảng bảo đảm tính chuẩn mực cho người giáo viên tương lai.

  2. Việc tích hợp các môn Lý luận chính trị theo Quyết định số 52/2008/QĐ-BGDĐT tạo ra những khó khăn gì? Chương trình tích hợp rút ngắn thời lượng nhưng dung lượng kiến thức rất lớn và mang tính khái quát cao. Việc giảng viên phải dạy liên môn ngoài chuyên ngành sâu trong bối cảnh 85,71% giảng viên chưa đạt trình độ sau đại học tạo áp lực lớn, dễ dẫn đến tình trạng dạy lướt và giảng dạy thuần túy lý thuyết.

  3. Tại sao tỷ lệ sinh viên không chuẩn bị bài trước khi lên lớp lại ở mức cao? Kết quả khảo sát 288 sinh viên khóa 30 cho thấy có tới 76,32% sinh viên ngành Hóa - Sinh và 35,71% sinh viên ngành Toán không đọc giáo trình trước. Nguyên nhân là do thói quen học đối phó môn chung, nội dung giáo trình còn nặng tính kinh điển và áp lực ôn thi lại đại học của sinh viên năm thứ nhất.

  4. Phương pháp giảng dạy truyền thống tác động tiêu cực thế nào đến kết quả học tập? Phương pháp đọc chép độc thoại chiếm hơn 80% thời lượng làm triệt tiêu khả năng phản biện của người học. Điều này phản ánh rõ qua số liệu học tập 6 khóa liên tiếp khi tỷ lệ sinh viên xếp loại yếu kém luôn ở mức cao từ 26,16% đến 36,05%, đòi hỏi phải chuyển sang hình thức dạy học tương tác.

  5. Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định tác động thế nào đến nhận thức sinh viên? Với 74% dân số sống bằng nông nghiệp và thu nhập bình quân chưa cao, sinh viên dễ bị ảnh hưởng bởi tư duy kinh nghiệm ngắn hạn hoặc lối sống thực dụng. Việc giáo dục lý luận chính trị giúp sinh viên xây dựng bản lĩnh kiên định, không bị lôi kéo bởi tệ nạn xã hội và mê tín dị đoan.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện thực trạng đào tạo 6 khóa sinh viên (2003 - 2010) với quy mô gần 1.500 sinh viên tại Trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định.
  • Phân tích rõ các rào cản nội tại khi 85,71% giảng viên cơ hữu chưa đạt chuẩn sau đại học và tỷ lệ sinh viên yếu kém còn dao động từ 26,16% đến 36,05%.
  • Khẳng định vai trò hạt nhân của thế giới quan duy vật biện chứng trong việc rèn luyện tư duy khoa học và đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm.
  • Xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá với lộ trình chuẩn hóa 100% giảng viên và đảm bảo 30% thời lượng thảo luận xêmina đến năm 2015.
  • Đặt mục tiêu chiến lược nâng tỷ lệ sinh viên đạt khá giỏi lên trên 45% và giảm tỷ lệ yếu kém xuống dưới 15% trong các năm học tiếp theo.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là đã gắn kết chặt chẽ lý luận triết học Mác - Lênin với việc giải quyết các bài toán cụ thể về chất lượng đào tạo tại một trường cao đẳng sư phạm địa phương. Để nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng cho thế hệ trẻ, các nhà quản lý và giảng viên cần nhanh chóng áp dụng đồng bộ các đề xuất phương pháp và học liệu vào thực tế giảng dạy ngay từ năm học này.