Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỊ TRÍ,VAI TRÒ CỦA TRỢ GIÚP VIÊN PHÁP LÝ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm trợ giúp viên pháp lý và vị trí, vai trò của trợ giúp viên pháp lý trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm trợ giúp viên pháp lý Các quy phạm pháp luật về TGPL xác định 5 lĩnh vực pháp luật được TGPL bao gồm: Hình sự và TTHS; Dân sự, hôn nhân gia đình và tố tụng; Hành chính, khiếu nại tố cáo; Lao động, việc làm; Đất đai, nhà ở. Về hình thức TGPL cũng được quy phạm hóa như: Tư vấn pháp luật; Tham gia tố tụng; Đại diện ngoài tố tụng, Hòa giải, kiến nghị và các hình thức TGPL khác nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được TGPL, góp phần đảm bảo công bằng xã hội.
Để hiểu rõ khái niệm về trợ giúp viên pháp lý, trước hết cần hiểu khái niệm “trợ giúp pháp lý” là gì?. Theo từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn nhữ học, NXB Đà Nẵng, “trợ giúp” được hiểu là giúp đỡ, “pháp lý” được hiểu là “nguyên lý về pháp luật” [36]. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt – Nguyễn Như Ý, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, 1999 thì “trợ giúp” là “sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem cho ai cái gì đang lúc khó khăn, đang cần đến”. Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa – Nxb Tư pháp, 2006 cho rằng pháp lý là những khía cạnh, phương diện khác nhau của đời sống pháp luật của một quốc gia, “pháp lý” chỉ những lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, giá trị pháp lý bắt buộc từ một sự việc, hiện tượng xã hội, những nguyên lý, phạm trù, khái niệm lý luận về pháp luật [35].
Như vậy có nhiều cách gọi khác nhau về thuật ngữ này nhưng cụm từ “trợ giúp” đều có nội dung nói đến sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ. Ở Việt Nam, thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” được đề cập trong một số văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước từ năm 1995, như Thông báo 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com số 485/CV-CPTW về ý kiến chỉ đạo Ban Bí thư TW Đảng ngày 31/5/1995 của Văn phòng TW Đảng, lần đầu tiền được ghi nhậnchủ trương của Đảng về giúp đỡ pháp luật miễn phí cho người nghèo, đối tượng chính sách; Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức TGPL cho người ngèo và đối tượng chính sách. Luật TGPL năm 2006 đã đưa ra khái niệm trợ giúp pháp lý tại Điều 3 như sau“trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL theo quy định của Luật ngày, giúp người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật”. Luật TGPL năm 2017 (có hiệu lực từ 01/01/2018) quy định ngắn gọn hơn về khái niệm TGPL như sau: “trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL trong vụ việc TGPL theo quy định của Luật này, góp phần đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật”.
Có thể thấy, Luật TGPL năm 2006 và năm 2017 chỉ đưa ra khái niệm chung về TGPL. Trong lĩnh vực tư pháp hình sự, Liên hợp quốc quy định “trợ giúp pháp lý bao gồm tư vấn pháp lý, hỗ trợ và đại diện cho người bị tạm giam, bị bắt hoặc bị tù giam, bị tình nghi hay bị cáo buộc, hoặc bị buộc tội và cho các nạn nhân, nhân chứng trong quá trình TTHS, được cung cấp miễn phí cho những người không có đủ điều kiện hoặc khi lợi ích công lý đòi hỏi như vậy. Hơn nữa, TGPL cũng có chủ đích bao hàm các khái niệm về giáo dục pháp luật, tiếp cận thông tin pháp lí và các dịch vụ khác được cung cấp cho các đối tượng thông qua các cơ chế giải quyết tranh chấp và quá trình tư pháp phục hồi” [27]. Theo đó, khái niệm theo quy định của Liên hợp quốc đã chỉ rõ về các hình thức TGPL, đối tượng được TGPL và mục đích của TGPL trong TTHS.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm TGPL, nhưng nhìn chung, các quan điểm về TGPL đều cho rằng TGPL nhằm giúp đỡ về mặt pháp lý cho đối tượng được TGPL mà người được trợ giúp không phải mất chi phí của dịch vụ mà mình thụ hưởng. Tuy nhiên, trên quan điểm tổng thể thì TGVPL cần được đề cập ở những khía cạnh sau đây: TGVPL là người thực hiện chức năng TGPL và địa vị pháp lý của TGVPL được quy định trong văn bản pháp luật của nhà nước; Khi thực hiện TGPL trong TTHS, TGVPL có quyền và nghĩa vụ như luật sư bào chữa, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; Đối tượng của TGVPL hỗ trợ là những người yếu thế, khó khăn. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm “trợ giúp viên pháp lý” như sau: TGVPL là người thực hiện các công việc pháp lý nhằm giúp đỡ, hỗ trợ về mặt pháp lý cho người được TGPL nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được TGPL, góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Vị trí, vai trò của trợ giúp viên pháp lý trong tố tụng hình sự 1.
Vị trí của trợ giúp viên pháp lý trong tố tụng hình sự Trong quá trình trợ giúp pháp lý, TGVPL đóng vai trò là người hướng dẫn pháp luật, đảm bảo cho người được TGPL đều được tiếp cận, sử dụng pháp luật miễn phí trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tạo điều kiện để công lý và công bằng xã hội được thực thi, thúc đẩy công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân biết. Để thực hiện vai trò đó, TGVPL có vị trí nhất định trong quá trình TTHS. Vị trí của TGVPLlà tổng hợp các các quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của TGVPL được Nhà nước, pháp luật trao để thực hiện vai tròTGPL của mình. Chẳng hạn như, TGVPL có nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thực hiện các nhiệm vụ và hoạt động nghiệp vụ TGPL qua tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và thực hiện các hình thức TGPL khác cho những đối tượng được TGPL (như người nghèo, người có công với cách mạng, người già, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số,.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong quá trình tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong quá trình tố tụng, TGVPL có mối quan hệ khăng khít với cơ quan tiến hành tố tụng. Mối quan hệ này được thể hiện trách nhiệm của TGVPL và cơ quan tiến hành tố tụng, như: Trong giai đoạn trước khi tham gia tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích, thông báo, thông tin về TGPL; đăng ký, từ chối, hủy bỏ việc đăng ký bào chữa; từ chối việc đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo Thực hiện việc thống kê vào Sổ theo dõi vụ việc TGPL trong hoạt động tố tụng quy định; Niêm yết Bảng thông tin về TGPL, đặt Hộp tin TGPL; phát miễn phí tờ gấp pháp luật, đơn yêu cầu TGPL; Đề nghị Trung tâm, Chi nhánh phối hợp thực hiện các hoạt động truyền thông và hướng dẫn về TGPL. Có thể thấy, giai đoạn này được thực hiện trước khi TGVPL tham gia tố tụng. Đây cũng là cơ sở để TGVPL có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác trong quá trình tố tụng để thực hiện hoạt động TGPL của mình.
Trong giai đoạn tham gia tố tụng, nếu phát hiện nếu phát hiện người thực hiện TGPL có hành vi vi phạm pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xử lý theo quy định của pháp luật và thông báo cho tổ chức thực hiện TGPL để kịp thời xử lý theo thẩm quyền và thay thế người thực hiện TGPL. Ngoài ra, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm giao các văn bản tố tụng cho người thực hiện TGPL tham gia tố tụng trong vụ án, vụ việc theo quy định của pháp luật về tố tụng; bảo đảm cho người thực hiện TGPL khi tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL theo quy định của pháp luật về tố tụng và pháp luật về TGPL. Có thể thấy, ở giai đoạn này, việc thực hiện các hoạt động nghiệp vụ kịp thời của cơ quan tiến hành tố tụng có ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả cũng như chất lượng TGPL của TGVPL. Đơn cử như, việc giao các văn bản tố tụng cho TGVPL tham gia tố tụng trong vụ án không kịp thời, chậm chễ sẽ rút ngắn thời gian nghiên cứu, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tư vấn, hỗ trợ cho người được TGPL của TGVPL dẫn đến ảnh hưởng đến chất lượng TGPL của vụ việc.
Hơn nữa, trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng không thực hiện việc phối hợp hoặc phối hợp không đầy đủ với TGVPL trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cũng là nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của TGVPL trong đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL. Bên cạnh đó, trong hoạt động tham gia tố tụng, hoạt động TGPL của TGVPL cần được sự phối hợp của Trại tạm giam, Nhà tạm giữ để tạo điều kiện trong việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa, cấp giấychứng nhận người bảo vệ, tạo điều kiện trong việc gặp gỡ, trao đổi với đối tượng, phô tô tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tham gia các hoạt động khác. Như vậy, TGVPL là người có thể thực hiện đầy đủ các hình thức TGPL, trong đó có tham gia tố tụng như luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong quá trình tố tụng. Do vậy, pháp luật hiện hành quy định các tiêu chuẩn, điều kiện của TGVPL tương đương như luật sư, điểm khác biệt là Trợ giúp viên pháp lý chưa có quy định về chế độ tập sự hành nghề như luật sư, không phải trải qua kỳ thi hết tập sự hành nghề luật sư và do đó không được Bộ Tư pháp cấp chứng chỉ hành nghề luật sư.