Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN TRẺ EM 1. Các khái niệm cơ bản 1. Trẻ em, quyền trẻ em và bảo vệ quyền trẻ em Tùy theo các góc độ tiếp cận của các ngành khoa học mà “trẻ em” được định nghĩa khác nhau. Trong khoa học pháp lý, “trẻ em” là khái niệm được xác định theo độ tuổi.
Độ tuổi được xem là trẻ em ở mỗi quốc gia được quy định khác nhau. Nguyên nhân của sự khác biệt này nằm ở mối liên hệ của nguồn lực trong công tác an sinh xã hội cũng như tình hình kinh tế xã hội của từng quốc gia đối với trẻ em. Thậm chí trong luật pháp quốc tế, các quy định cũng có phần khác biệt. Ví dụ, đối với các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc, có thể kể đến Quỹ dân số LHQ (UNFPA), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), hay Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO), các văn kiện của các tổ chức kể trên đều ghi nhận trẻ em là những người dưới 15 tuổi.
Nhưng với Công ước về quyền trẻ em (CRC) năm 1989, điều 1 khẳng định: “trẻ em là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi”. Mặc dù vậy, điều này quy định mở, với ngôn ngữ không bắt buộc, thể hiện ở nội dung: “trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Như vậy, các quốc gia với những quy định khác biệt về độ tuổi được công nhận là “trẻ em” có thể dễ dàng chấp nhận tham gia CRC. Pháp luật quốc tế đòi hỏi phải phân biệt khái niệm này với khái niệm “người chưa thành niên”.
Khoản a, điều 11, Các quy tắc của LHQ về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do 1990 quy định: “người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”. Quy tắc Bắc Kinh (Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về việc áp dụng pháp luật với người chưa thành niên, 1985), Hướng dẫn Ri-át (Hướng dẫn của LHQ về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên, 1990) cũng sử dụng khái niệm này. Các văn kiện quốc tế này sử dụng khái niệm trẻ em, người chưa thành niên với mục đích bảo vệ quyền trẻ em và người chưa thành niên khi họ phạm pháp. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có hai thuật ngữ chỉ “trẻ em” theo tiêu chuẩn của CRC.
Thuật ngữ “trẻ em” là người dưới 16 tuổi được sử dụng trong Luật trẻ em 2016 và thuật ngữ “người chưa thành niên” để chỉ những người dưới 18 tuổi và được sử dụng trong rất nhiều văn bản pháp luật như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật hôn nhân và gia đình, Luật nghĩa vụ quân sự, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhằm quy định cụ thể những chế định pháp luật dành riêng cho người chưa thành niên trong nhiều từng lĩnh vực. Có thể thấy khái niệm “người chưa thành niên” rộng hơn khái niệm “trẻ em, “người chưa thành niên” bao gồm cả “trẻ em” và những người từ 16 tuổi đến 18 tuổi. Bộ luật” Hình sự 2015 đưa ra những những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại điều 12, chỉ sử dụng trực tiếp các mức độ tuổi cụ thể để điều chỉnh mà không dùng khái niệm “người chưa thành niên phạm tội” như trước. Phạm vi về không gian của luận văn là tại Việt Nam, một quốc gia thành viên của CRC, và để bao quát được nhiều nhất những hoạt động của các tổ chức NGO trong việc bảo vệ quyền trẻ em, “trẻ em” trong luận văn này có thể hiểu là những người dưới 18 tuổi theo tiêu chuẩn của CRC.
Lần đầu tiên, “quyền trẻ em” được đề cập đến trong phong trào toàn cầu đầu tiên về trẻ em do Eglantyne Jebb khởi xướng bằng việc hình thành Quỹ Save the children (tiền thân của NGO Save the children ngày nay) năm 1919. Năm năm sau đó, bà soạn thảo Tuyên ngôn về Quyền trẻ em được Hội quốc Liên thông qua [66]. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật quốc tế, “quyền trẻ em” được ghi nhận. Trước thời điểm này, các điều khoản bảo vệ trẻ em trong các điều luật được xây dựng dựa trên quan niệm trẻ em là đối tượng phụ thuộc đang nhận sự che chở, tình thương của các chủ thể có liên quan [6, tr.
Kể từ đây, quyền trẻ em trở thành một nội dung của quyền con người. Mặc dù từ thời điểm đó đến khi quyền trẻ em được bảo vệ bởi một Công ước riêng đã mất đến gần 7 thập kỷ nhưng ngay từ khi quyền con người được nhắc đến trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (UDHR, 1948) và sau đó hai 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công ước quan trọng nhất về quyền con người là Công ước về Quyền dân sự, chính trị (ICDPR,1966) và Công ước về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội (ICECSR, 1966) đều nhắc đến nguyên tắc phổ quát của quyền con người. Như vậy đã có thể hiểu trẻ em cũng là chủ thể bình đẳng với người trưởng thành trong việc hưởng tất cả các quyền và tự do cơ bản được ghi nhận trong luật nhân quyền quốc tế. Thuật ngữ “bảo vệ và thúc đẩy” (protect and promote) là một thuật ngữ phổ biến trong lĩnh vực quyền con người.
Thuật ngữ này có thể được các tổ chức của LHQ sử dụng để chỉ các hoạt động đảm bảo quyền con người nói chung. “Bảo vệ quyền” là hoạt động có liên hệ với ba nghĩa vụ chính của Nhà nước nhằm đảm bảo quyền con người theo pháp luật Nhân quyền quốc tế, bao gồm: Tôn trọng (respect), bảo vệ (protect) và hỗ trợ/ thực thi (fulfill). Trong đó, “bảo vệ quyền” mang ý nghĩa Nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ các cá nhân và nhóm khỏi các vi phạm về quyền con người. Như vậy, hoạt động bảo vệ quyền con người tập trung vào phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý các vi phạm quyền con người.
Khoản 3, Điều 1, Hiến chương LHQ đã nêu một trong những mục đích của LHQ là “thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng đối với quyền con người và các quyền tự do cơ bản”. Lời nói đầu của Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền cũng thừa nhận vai trò của quốc tế trong việc: “thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người thông qua truyền bá và giáo dục; cũng như thúc đẩy sự thừa nhận và tuân thủ chung và hữu hiệu các quyền đó không chỉ với người dân nước mình mà với cả các dân tộc ở các lãnh thổ thuộc quyền quản thác của nước mình, thông qua các biện pháp tích cực, kể cả trong phạm vi quốc gia và quốc tế”. Như vậy, “thúc đẩy” được hiểu là các hoạt động truyền bá, giáo dục quyền con người thông qua các biện pháp tích cực. Việc bảo vệ quyền trẻ em không tách rời việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người nói chung, bởi lẽ quyền trẻ em là quyền con người của trẻ em và đây chính là việc bảo vệ quyền con người ở giai đoạn đầu tiên của cuộc đời.
Tuy nhiên trẻ em sở hữu những đặc điểm khác với người trưởng thành, vì vậy, việc bảo vệ quyền trẻ em cũng phải có những điểm đặc trưng, bên cạnh những nguyên tắc phổ quát của quyền con người, bao gồm bồn nguyên tắc sau: 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Trẻ em cũng là những con người: Nguyên tắc này xác định vị thế bình đẳng của trẻ em với người lớn về phương diện chủ thể của quyền, phải được công nhận và bảo vệ các quyền ngay từ giai đoạn thơ ấu; - Không phân biệt đối xử: Tất cả trẻ em trên thế giới đều được hưởng các quyền quy định tại CRC, bất kể sự phân biệt dựa trên cơ sở nào (dân tộc, chủng tộc, giới tính, tôn giáo, .); - Lợi ích tốt nhất dành cho trẻ em: Nguyên tắc này đòi hỏi trong mọi hoạt động có liên quan đến trẻ em, nhà nước, các chủ thể khác, các bậc cha mẹ phải lấy lợi ích của trẻ em làm mục tiêu đầu tiên; - Tôn trọng ý kiến, quan điểm của trẻ em: Nguyên tắc này nhằm đảm bảo rằng trẻ em thực sự là chủ thể của quyền. Nó đòi hỏi các chủ thể khác phải tôn trọng các quyền tự do diễn đạt, tự do tôn giáo, tín ngưỡng, tự do lập hội và tự do tư tưởng của trẻ em. Ở Việt Nam, mặc dù thuật ngữ “quyền trẻ em” chưa bao giờ xuất hiện trong thời kỳ phong kiến, tuy nhiên, pháp luật luôn có những quy định bảo vệ đối tượng là trẻ em. Tư tưởng này được hoàn thiện nhất trong bộ Quốc triều hình luật triều Hậu Lê – triều đại có thời gian tồn tại lâu nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.
Có thể kể đến nguyên tắc khoan hồng đối với người phạm tội là trẻ em, thể hiện ở điều 16 và điều 17 của bộ luật này, quy định “những người phạm tội…. từ 15 tuổi trở xuống…. phạm tội lưu, đồ trở xuống được chuộc bằng tiền”, “10 tuổi trở xuống… phạm tội trộm, đánh người bị thương thì cũng cho chuộc tội,… 7 tuổi trở xuống dù phạm tử tội cũng không áp dụng hình phạt” (Điều 16) [25, tr. 207], hoặc điều luật bảo vệ quyền của trẻ em mồ côi như điều 313: “… những trẻ nhỏ mồ côi, tự bán mình mà không có ai bảo lĩnh thì người mua cùng người viết văn khế, người làm chứng thảy đều xử tội xuy, trượng như luật, đòi lại tiền trả cho người mua và hủy bỏ văn khế”, hay bảo vệ trẻ lạc tại các điều 604: “Bắt được trẻ con đi lạc thì phải báo quan làm bằng chứng thật, có ai đến nhận thì được lấy tiền nuôi dưỡng, trái luật không cho người ta nhận con thì xử tội nhẹ hơn tội quyến rũ một bậc”, và điều 605: “Làm sự trái ngược (lượm trẻ lạc về, không nuôi còn hành hạ) để đến nỗi con người ta chết thì đánh 80 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trượng, đền tiền đền mạng 5 quan cho cha mẹ đứa trẻ chết” [25, tr.
Tuy nhiên những quy định pháp luật về bảo vệ trẻ em tại thời điểm này chỉ hạn chế trong một số lĩnh vực như pháp luật hình sự, các mối quan hệ hôn nhân gia đình và dựa trên nền tảng đạo đức, mối quan hệ giữa người giám hộ và trẻ. Đây là một trong những quan niệm phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia.