CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VE BAO VE QUYEN CUA TRE EM TRƯỚC NAN BAO LUC GIA ĐÌNH 1. Kháiniệm quyền trẻ em va bạo luc gia đình déivéi trẻ em 1. Khái niệm quyều trẻ em a. Khai niệm trẻ em Công ước về quyên trẻ em được Đại hội Liên H op quốc thông qua tại Nghi quyết số 44/25 ngày 20/10/1989, có liệu lực từ ngày 22/9/1990.
Đây là công ước quốc tê có số lương quốc gia thành viên đông nhất và được phô biên rộng rãi nhật. Do đó, các quy định của công ước có thé coi là nên tảng pháp lý va có tính thông nhật chất chế với hé thông pháp luật các quốc gia trên thê giới. Cụ thể, theo Điều 1 Công ước định nghĩa trẻ em là "moi cơn người dưới tuổi 18 trừ khi theo luật có thé áp dụng cho tré em, tuổi trưởng thành được quy định sớm hơn “. Như vậy, trễ em được coi là những người dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia quy định tuổi trưởng thành sớm hon.
Ban đầu, Theo Pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979, trẻ em được quy định là gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi. Sau khi ký kết Công ước trên, Việt Nam đã có sự điều chỉnh về độ tuổi. Cụ thé, theo Điều 1 Luật Bao vệ, cham sóc và giáo đục trẻ em năm 1991, trẻ em được định nghĩa là “công dan Viét Nam dưới tmười sáu: tdi. Định nghĩa này van được duy trì áp dung với văn bản Luật Bảo vệ, chăm sóc va giáo dục trẻ em năm 2004, Luật Tré em năm 2016.
Như vay, cá quốc gia có thé đưa ra giới han tuổi và xác lập địa vi của tré em due trên điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa Ngoài “trễ em”, những văn bản pháp lí quốc tê còn ding những thuật ngữ khác như “người chưa thành miên” (juvenile), thiêu nién (adolescence), hoặc người trẻ tuổi (youth). Điều nay có phân khác với pháp luật V iệt Nam, vì hệ thông pháp luật nước ta có sự phân biệt về “trẻ em” và “người chưa thành tiên”. Theo pháp luật quốc tê, thuật ngữ “trẻ em” được ding trong tật cả các bôi cảnh có người nhỏ tuổi liên quan hoặc tham gia như là nan nhân của tội phạm, nhân chứng cung cap lời khai, là đối tượng được chăm sóc, giám hô hoặc bảo vệ. Trong khi đó, thuật ngữ “người chưa thành miên” chủ yêu được dingtrong inh vực tư pháp hình sự với tư cách là người pham tôi hoặc bị can, bi cáo.
Nhìn chung theo pháp luật quốc tê, định nghĩa về trễ em và người chưa thành miện. khá giống nhau, tuy nhiên trẻ em thường được dùng dé chỉ đối tương dé bị tan thương, va cân su bảo vệ quyên, lợi ích đặc biệt còn người chưa thành niên thường ding dé chỉ chủ thé tham gia tô tụng trong vụ án hình su! Theo pháp luật Viét Nam, theo Điều7 Sắc lệnh sô 97/SL của Chủ tịch nước ngày 22/5/1950 là: “'Người vị thành nién là con trai hay con gái chưa dit 18 nuối”. Bộ luật Dân sự các năm 1995, 2005 và 2015 cũng quy định người chưa thành miên là người chưa đủ mười tám tuổi. Như vậy, “người chưa thành niên” được hiểu rộng hơn “trễ em”, khái niém trễ em tập trung về độ tuổi là dưới 16 tuôi thì người chưa thành miên thường được đùng dé nói chung đền những người dưới 18 tuổi tham gia vào các quan hệ pháp luật.
Khải niệm quyền tré em “Quyên” là những điêu ma pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đổi với cá nhén, tổ chức dé theo đó cá nhân được hưởng, được lam, nêu nhũng điều đó bị tước đoạt thi công dân được đời hỏi ma không ai được ngắn can, han chê. Quyên cơn người là toàn bộ các quyền, tự do và đặc quyền được công nhận đành cho cơn người sinh ra từ bẩn. chat cơn người, những quyền này có từ khi cơn người sinh ra như quyên sống, quyên tư do, chứ không phải được tạo ra bởi pháp luật hiện hành Cùng với đó, quyên cơn người cũng được nhìn nhận trên quan điểm là các quyên pháp lý, được hiểu là những đảm bảo pháp lí toàn câu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chồng lại những hành đông hoặc sự bỏ mac mà làm tén hại đến nhân phém, nhing sự được phép và sự tự do cơ bản của con người). Quyên trễ em được coi là mét bộ phận của quyên cơn người, nên quyên trẻ em cũng mang các đặc điểm của quyên con người Như vậy, quyên tré em là “tất cá những điều mà trẻ em được hướng.
được làm, được đồi hỏi do pháp luật công nhận, đâm bdo thực hiện và không ai được ngăn can, han chế”. Trẻ em là đối tượng dé bị tôn thương, đây là nhóm người có vị thê về chính trị, xã hội hoặc kinh tê thập hon, từ đó khién ho có nguy cơ cao hơn bị tôn thương về quyên ! Trường Daihoc Luật Hi Nội, Giáo trinh Tư pháp đổi với người cuca thành riển, Nhà xuất bin Tự Pháp; Hà Nội,2020,tr.11 + Trường Daihoc Luật Hi Nội, Giáo trinh Tư pháp đốt với người cha thành miền, Nhà xuất bin Tự Pháp; Hà Nội,2020,,tr.13 ` Trường Đại học Luật Hi Nội, Giáo trinh Luật Hién pháp Việt Nam, Nxb Tư Pháp, Hà Nội,2019,tr. cơn người cũng như dễgặpnguy hiểm, chịu những thương tổn về thé xác va tinh than, do đó can được chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, công đồng người khác. Dau tiên, tré em chưa được hoàn thiện về thé chất, khién chúng khó chống trả hoặc thoát khỏi tình huéng bi gây thương tốn hay lam dung.
Bên cạnh do, trẻ em thường có ít kinh nghiệm sông, cũng như thiêu kiên thức cũng như chưa phát triển hoàn thiện về tinh thân và cảm xúc do đó dé bi thao túng lợi dung lòng tin. Theo hệ thang pháp lý của các quốc gia trên thê giới, trẻ em không có quyên tự chủ hay quyền tự đưa ra quyết định về bản thân mà những người lớn hay còn gọi là người giám hộ, được trao quyên đó, tuỷ thuộc theo từng hoàn cảnh”. Vi vậy, trẻ em lả đôi tượng cân nhận được sự bảo vệ từ môi quốc gia và toàn xã hội. Việc quyền trễ em được công nhận là nên tăng trong việc bảo vệ trẻ em khỏi nguy hiểm, đảm bảo cho trẻ em không chỉ là người tiệp nhận sự yêu thương và chăm sóc của người lớn ma còn tạo điều kiện thích hop dé tré phát triển va trưởng thành, qua đó tạo nên những thê hệ, công dan có ích trong tương lai.
Khái niệm bạo lee gia đình đôi với trẻ em Trong Tiêng V iệt, bao lực thường được hiểu là: “viếc sử dung sức mạnh đềcưỡng bức, trần dy hoặc lat để. Bao lực được coi là mot công cụ với mục đích thực thi quyên lực trong quan hệ mat chiêu dua trên ưu thê vệ thé chất hoặc tinh thân đối với người yêu thê hơn Bạo lực mang ảnh hưởng tiêu cực trong quan hệ gia định, kéo theo những hệ quả như gây mat tinh cảm, doan kết trong gia đình, gây nên những tôn thương vệ tâm lí và thé chat đối với các thành viên trong gia đính, thậm chí có thé là khối nguồn cho những hệ quả nặng nê hơn nhw ảnh lường dén sự phát triển của xã hội Theo Luật Phòng, chống bạo lực gia định: “Bao lực gia đình là hành vi cế ÿ của thành viễn gia đình gây tôn hại hoặc có khả năng gây tốn hại về thé chất, tình thần, tinh due, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình”. Tùy từng mức độ của hành vi mata có thể xem xét nó có phải là bạo lực gia dinh hay không, chỉ khi hành động bao lực đó gây ảnh lưởng nghiêm trong tới sức khỏe thé chất và tinh than của tré em thì mới nhận sự quan tâm cũng như sự can thiệp của nhà nước và xã hôi Như vay, bao lực gia dinh *Lamsdoym, G. “Claldren's welfare and children's rights "in Hendrik, H.
(2005) Child Welfare And Social Policy: An Essential Reader,The Policy Press. ily š Viên Ngnngthọc; Từ đến Tiếng Viết,Nxb Da Nẵng, 2000,tr 6 đối với trễ em là “hành vi mà một hoặc một số thành viên trong gia đình sir dung sức mạnh vật bj, lam dụng tâm If, bõ bê hay bat là hành động khác gây hại hoặc có khả năng gây hại về mặt thé chất tình thần, sức khỏe, kinh tế đối với tré em”. Nguồu gốc của bạo hee gia đình đôi với trẻ em: Nguồn gốc bạo lực gia đình đến từ cả nhân. Đầu tiên là do trình độ văn hóa va nhận thức pháp luật của thành viên trong gia đình Nhiều cá nhân không được giáo duc về van nạn bao lực gia định, do đó, họ không nhận thức được hoàn toàn hậu quả của hành vi nay.
Viéc sử dung don roi giáo đục trẻ là quan niém truyền thông, được sử dụng trong giáo duc con cái lâu đời ở Việt Nam. Do đó nhiéu người coi việc đánh đập trẻ em để nên người là chuyên đương nhién ma không biết đây là hành vi vi pham pháp luật hoặc biết nhũng van cô tình lam. Hiện tượng này hầu hết xuất phát từ việc thiêu hiểu biết, trình độ học van thập và văn hóa kém, dẫn dén sự lệch lạc trong suy nghĩ, tư tưởng, từ đó dễ xúc đông và thiêu kiểm soát trong hành động” Tiếp đó, bao lực gia đính đối với trễ em có thé bắt nguồn từ tính xâu hoặc tệ nạn xã hội của các thành viên trong gia đình. như rượu chè, cờ bạc, người vợ mai chơi bỏ bê gia đình hay người chồng gia trưởng.
Những cá nhân này để xúc động và có xu hướng sử dụng bạo lực nhiéu hơn, đặc biệt khi gap những trường hop căng thang, ga định dỗ xảy ra XÔ xát cãi vã cũng dan đến nhiêu trường hợp bao lực gia định ở cả tâm lý va thé chất. Cuối cùng tính cách cá nhân cũng đớng một phân lớn đền sự kiểm soát va kỹ năng quản ly xung đột Những người nóng tính, khó kiểm soát, thiêu sự đông cảm thường có xu hướng thực hiện hành vĩ bạo lực khi gấp căng thang bởi ho là những người có xu hướng thé hién cảm xúc ra bên ngoài mét cách không kiêm chê, dé dàng bö qua cảm xúc va nhu câu của người khác. Ngoài ra, những người có tính gia trưởng, muốn nam quyên trong gia đính cũng thích sử dụng bạo lực nhu mét công cụ đề thông trị, ép trẻ phải phục ting minh.