mở đầu trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 và 2 Công ước về các quyền dân sự, chính trị và các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá năm 1966, trẻ em được thừa nhận là chủ thể bình đẳng với người lớn trong việc hưởng tất cả các quyền và tự do cơ bản được ghi nhận trong luật nhân quyền quốc tế. Tuy nhiên, do đặc trưng của 19 trẻ em là còn non nớt cả về thể chất lẫn tinh thần cho nên ngay trong những văn bản này, trẻ em đã được ghi nhận những quyền đặc thù, đặc biệt là quyền được chăm sóc, giáo dưỡng và được bảo vệ đặc biệt. Dựa trên cách tiếp cận đó, năm 1959, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua một văn kiện riêng về quyền trẻ em (Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền trẻ em). Quyền vui chơi, giải trí lần đầu tiên được ghi nhận trong Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1959 “…Trẻ sẽ phải có đủ cơ hội để vui chơi và giải trí, được định hướng theo cùng những mục đích giáo dục: xã hội và chính quy n phải cố gắng phát huy quy n này của trẻ” (Nguyên tắc 7).
Tuyên bố này là tiền đề để Liên hợp quốc xây dựng và thông qua Công ước về quyền trẻ em (CRC) vào ngày 20-11-1989. Công ước về quyền trẻ em là văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản và toàn diện nhất về quyền trẻ em. Công ước tiếp cận quyền trẻ em từ những đặc thù trong sự phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ em. Không những vậy, Công ước còn đề cập cụ thể đến các yếu tố, hoàn cảnh tác động đến việc bảo đảm quyền trẻ em.
Công ước đề cao vai trò của gia đình với ý nghĩa là môi trường quan trọng nhất cho sự sống còn, phát triển và hạnh phúc của trẻ em. Công ước đề cập đến tác động của truyền thống văn hóa đối với cuộc sống, sự phát triển của trẻ em, đồng thời nhấn mạnh vai trò của hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này. Quyền trẻ em được làm rõ trong Công ước và lấp đi những lĩnh vực còn trống trong các văn kiện quốc tế trước đó về quyền trẻ em. Đó chính là các yếu tố cơ bản làm cho Công ước trở thành công cụ pháp lý quốc tế quan trọng và hiệu quả nhất trong việc bảo vệ các quyền trẻ em.
Công ước về quyền trẻ em đánh dấu bước ngoặt lớn trong việc ghi nhận và bảo đảm các quyền của trẻ em. Để hỗ trợ cho Công ước, từ năm 1989 đến nay Liên Hợp Quốc tiếp tục thông qua nhiều văn kiện quốc tế khác về vấn đề này, trong đó có hai Nghị định thư bổ sung Công ước đều được thông qua năm 2000, bao gồm: Nghị 20 định thư không bắt buộc về sử dụng trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang và Nghị định thư không bắt buộc về buôn bán, bóc lột mại dâm trẻ em và văn hóa khiêu dâm trẻ em. Công ước về quyền trẻ em trở thành hiện thực không dễ dàng mà là quá trình phấn đấu lâu dài, gian khổ. Trên thực tế tình trạng vi phạm quyền trẻ em còn phổ biến ở nhiều nơi và không phải tất cả mọi trẻ em đều đã được hưởng đầy đủ quyền của mình nhưng nội dung Công ước vẫn là những chuẩn mực quốc tế cho hành động của các quốc gia và là công cụ pháp lý quốc tế quan trọng nhất cho việc thúc đẩy và bảo vệ quyền trẻ em.
Theo đó, quyền vui chơi, giải trí của trẻ em được CRC cụ thể hóa tại Điều 31: “Các Quốc gia thành viên thừa nhận quy n của trẻ em được nghỉ ngơi và thư giãn, được tham gia vui chơi và những hoạt động giải trí và được tự do tham gia các sinh hoạt văn hóa và nghệ thuật phù hợp với lứa tuổi” [13, Đ. Như vậy, Điều 31 CRC đã buộc các quốc gia thành viên phải ghi nhận và bảo đảm việc thực hiện quyền được nghỉ ngơi vui chơi, giải trí và được tạo mọi điều kiện để tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ phù hợp với lứa tuổi một cách bình đẳng. Do tính chất đa dạng và rộng lớn của nó, việc bảo đảm quyền này không chỉ gắn với trách nhiệm của các bậc cha mẹ, mà còn là trách nhiệm của các nhà trường, cộng đồng và nhà nước. Tại Bình luận chung số 17, Ủy ban về quyền trẻ em đã nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền vui chơi, giải trí đối với hạnh phúc và sự phát triển của trẻ em, nhằm đảm bảo sự tôn trọng và đẩy mạnh việc đảm bảo quyền này đối với trẻ em.
Dựa trên những đánh giá của Ủy ban về quyền trẻ em trong việc thực hiện các quyền của trẻ em theo Công ước cho thấy sự thiếu ghi nhận của các quốc gia về các quyền được nêu tại Điều 31 CRC. Việc ghi nhận chưa đầy đủ tầm quan trọng của các hoạt động này với cuộc sống của trẻ em dẫn tới các quốc gia chưa đầu tư đầy đủ vào việc xây dựng các quy định pháp luật và tạo thời gian, không gian cho trẻ em tham gia vui chơi, giải trí, sáng tạo tự do và khuyến khích xã 21 hội có thái độ hỗ trợ và khuyến khích các hoạt động này đối với trẻ em. Bình luận chung số 17 cũng đưa ra những giải pháp nhằm giải quyết những mối quan ngại, nâng cao vị thế, nhận thức và sự hiểu biết giữa các quốc gia về các nội dung của Điều 31 CRC về sự phát triển của trẻ em và thúc giục các quốc gia xây dựng các biện pháp đảm bảo thực hiện. Thứ hai, bảo đảm quy n vui chơi, giải trí của trẻ em có sự liên hệ và phụ thuộc giữa các quy n con người Quyền vui chơi, giải trí của trẻ em là một trong số những quyền tất yếu của con người cần được bảo đảm và tôn trọng, tất cả các quyền con người đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện bảo đảm tốt quyền này sẽ là tiền đề thực hiện quyền kia.
Ngược lại khi một quyền lợi bị xâm phạm sẽ gây ra mức độ ảnh hưởng nhất định đến các quyền khác. Quyền con người hay nhân quyền (theo Hán – Việt) là một phạm trù đa diện, được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, do đó có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Nhưng trước hết, quyền con người được hiểu là những đặc quyền mà con người sinh ra là tự nhiên có, sinh ra đã được hưởng bắt nguồn từ bản chất muôn đời và bất biến của con người. Đó là những đặc quyền mang tính tự nhiên, không thể bị tước đoạt như quyền được sống, được tự do, được mưu cầu hạnh phúc, được đối xử công bằng, bình đẳng.
Dưới góc độ này có thể hiểu: “Quy n con người là khả năng tự nhiên ẩm sinh vốn có, không thể ị t- ước đoạt của con người được hưởng lợi ích gì, được làm gì để thoả mãn nhu cầu tự nhiên và nhu cầu xã hội của mình, được yêu cầu và đòi hỏi ai, tổ chức nào để họ đáp ứng lợi ích cho mình” [ 35, tr. Theo dòng lịch sử, bản danh sách các quyền con người ngày càng nối dài và mở rộng thêm phản ánh quy luật phát triển của xã hội từ thấp đến cao. Sự hình thành và phát triển đó mang tính quy luật trong nhận thức của loài người từ những khái niệm sơ khai nhất về công bằng, bình đẳng, tự do và nhân phẩm 22 cho đến những tư tưởng, học thuyết và những quy phạm pháp lý về quyền con người. Do đó, để quyền con người nói chung, quyền vui chơi, giải trí của trẻ em nói riêng trở thành hiện thực và chắc chắn thực hiện được trong thực tế, việc thiết lập các điều kiện, yếu tố bảo đảm quyền con người là một đòi hỏi tất yếu.
Thứ a, bảo đảm quy n vui chơi, giải trí của trẻ em là truy n thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được coi là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Minh chứng là cả bộ Hình thư thời Lý và Bộ luật Hồng Đức thời Hậu Lê đều đã có những quy định rất cụ thể và tiến bộ về vấn đề này. Kế thừa truyền thống đó, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em của Liên hợp quốc (vào ngày 20/02/1990).
Ngay sau đó, nhà nước đã ban hành hai đạo luật quan trọng là Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và Luật Phổ cập giáo dục tiểu học (cùng vào năm 1991). Thêm vào đó, nhà nước còn xây dựng và tổ chức thực hiện các Chương trình Hành động Quốc gia vì trẻ em trong mỗi giai đoạn 10 năm, cũng như lồng ghép vấn đề bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em vào nhiều chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội khác của đất nước. Nội dung bảo đảm quyền vui chơi, giải trí của trẻ em Bảo đảm quyền vui chơi, giải trí của trẻ em là khái niệm mà nội dung của nó bao quát gần như toàn bộ đời sống pháp luật của nhà nước và xã hội, trong đó gồm các yếu tố quan trọng như: Quy định quyền vui chơi, giải trí của trẻ em thành các quyền, nghĩa vụ cụ thể; quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể liên quan đến việc thưc hiện và bảo vệ quyền vui chơi, giải trí của trẻ em; quy định hình thức, biện pháp xử lý hành vi vi phạm quyền vui chơi, giải trí của trẻ em… Theo đó, bảo đảm quyền vui chơi, giải trí của trẻ em bao gồm các nội dung chính sau đây: 23 Một là, ảo đảm quy n vui chơi, giải trí của trẻ em ằng việc thể chế hóa thành các quy định pháp luật. Để bảo đảm quyền vui chơi, giải trí của trẻ em trước hết phải thông qua hoạt động xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật vì không có pháp luật thì không có cơ sở pháp lý để bảo vệ, bảo đảm quyền vui chơi, giải trí của trẻ em bởi lẽ không có gì thúc đẩy sự vi phạm quyền vui chơi, giải trí của trẻ em hơn là tình trạng thiếu pháp luật hoặc pháp luật dựa trên cơ sở không khoa học.