Đề tài nghiên cứu khoa học những vấn đề tâm lý xã hội và pháp lý của việc bỏ rơi bỏ mặc trẻ em kinh nghiệm của một số quốc gia và giải pháp xử lý cho việt nam

Chuyên khảo phân tích Đề tài nghiên cứu khoa học những vấn đề tâm lý xã hội và pháp lý của việc bỏ rơi bỏ mặc trẻ em kinh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Pháp lý và Tâm lý xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo tổng kết đề tài

2023

117
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỎ RƠI, BỎ MẶC TRẺ EM

1.1. Khái niệm bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em

1.2. Đặc điểm của hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em

1.3. Chủ thể thực hiện hành vi

1.3.1. Tính chất của hành vi

1.3.2. Các nhóm hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em

1.4. Nguyên nhân của hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em

1.4.1. Nguyên nhân về tâm lý

1.4.2. Nguyên nhân về xã hội

1.4.3. Nguyên nhân về trình độ nhận thức

1.5. Hệ quả của hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em

1.5.1. Hệ quả về mặt tâm lý

1.5.2. Hệ quả về mặt xã hội

1.6. Các cơ chế điều chỉnh vấn đề bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em

1.6.1. Các cơ chế về tâm lý, xã hội

1.6.2. Cơ chế điều chỉnh bằng đạo đức

1.6.3. Cơ chế điều chỉnh bằng pháp luật

1.7. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÝ HÀNH VI BỎ RƠI, BỎ MẶC TRẺ EM Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

2.1. Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp xử lý hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em ở Malaysia

2.1.1. Thực trạng hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em ở Malaysia

2.1.2. Nguyên nhân của hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em ở Malaysia

2.1.3. Giải pháp xử lý hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em ở Malaysia

2.1.3.1. Giải pháp về mặt pháp lý
2.1.3.2. Giải pháp về mặt xã hội

2.2. Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp xử lý hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em ở Ấn Độ

2.2.1. Thực trạng hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em ở Ấn Độ

2.2.2. Nguyên nhân của hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em ở Ấn Độ

2.2.3. Giải pháp xử lý hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em ở Ấn Độ

2.3. Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp xử lý hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em ở Nam Phi

2.3.1. Thực trạng hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em ở Nam Phi

2.3.2. Nguyên nhân của hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em ở Nam Phi

2.3.3. Giải pháp xử lý hành vi bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em ở Nam Phi

2.3.3.1. Giải pháp về mặt pháp luật
2.3.3.2. Giải pháp về mặt xã hội

2.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÝ HÀNH VI BỎ RƠI, BỎ MẶC TRẺ EM Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA

3.1. Thực trạng hành vi bỏ mặc, bỏ rơi trẻ em ở Việt Nam

3.2. Nguyên nhân của hành vi bỏ mặc, bỏ rơi trẻ em ở Việt Nam

3.2.1. Nguyên nhân về tâm lý

3.2.2. Nguyên nhân về xã hội

3.2.3. Nguyên nhân về trình độ nhận thức

3.3. Giải pháp xử lý hành vi bỏ mặc, bỏ rơi trẻ em ở Việt Nam nhìn từ kinh nghiệm một số quốc gia

3.3.1. Giải pháp về mặt xã hội

3.3.1.1. Nhóm biện pháp tuyên truyền
3.3.1.2. Nhóm biện pháp giáo dục
3.3.1.3. Nhóm biện pháp mang tính thúc đẩy hoạt động của các cơ quan tổ chức
3.3.1.4. Nhóm biện pháp mang tính đảm bảo an toàn tính mạng cho trẻ em bị bỏ rơi

3.3.2. Giải pháp về pháp luật

3.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tâm lý xã hội và pháp lý khi bỏ rơi trẻ em

Tâm lý xã hộipháp lý là hai khía cạnh quan trọng khi nghiên cứu vấn đề bỏ rơi trẻ em. Hành vi này không chỉ vi phạm quyền trẻ em mà còn gây ra những hậu quả tâm lý nghiêm trọng cho trẻ. Hệ thống pháp luật hiện hành cần được phân tích để đánh giá hiệu quả trong việc bảo vệ trẻ em. Các chính sách xã hộihỗ trợ tâm lý cũng cần được xem xét để giảm thiểu tình trạng này.

1.1. Hậu quả tâm lý và xã hội

Trẻ em bị bỏ rơi thường phải đối mặt với những hậu quả tâm lý như lo âu, trầm cảm và thiếu tự tin. Những hậu quả xã hội bao gồm sự cô lập và khó khăn trong hòa nhập cộng đồng. Các nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng, hỗ trợ tâm lý kịp thời có thể giúp trẻ vượt qua những tổn thương này.

1.2. Hệ thống pháp luật và bảo vệ trẻ em

Hệ thống pháp luật hiện nay cần được cải thiện để đảm bảo quyền trẻ em được bảo vệ tối đa. Các giải pháp pháp lý như tăng cường giám sát và xử lý nghiêm minh các hành vi bỏ rơi trẻ em là cần thiết. Hỗ trợ pháp lý cũng cần được mở rộng để hỗ trợ các gia đình có nguy cơ cao.

II. Kinh nghiệm quốc tế và giải pháp cho Việt Nam

Kinh nghiệm quốc tế trong việc giải quyết vấn đề bỏ rơi trẻ em cung cấp nhiều bài học quý giá cho Việt Nam. Các quốc gia như Malaysia, Ấn Độ và Nam Phi đã áp dụng nhiều giải pháp toàn diện để giảm thiểu tình trạng này. Việt Nam cần học hỏi và áp dụng những giải pháp này một cách phù hợp với bối cảnh trong nước.

2.1. Kinh nghiệm từ Malaysia và Ấn Độ

Malaysia và Ấn Độ đã triển khai các giải pháp pháp lýxã hội để đối phó với bỏ rơi trẻ em. Malaysia tập trung vào hỗ trợ tâm lýgiáo dục cộng đồng, trong khi Ấn Độ chú trọng vào hệ thống bảo vệ trẻ emcan thiệp xã hội. Những giải pháp này đã giúp giảm đáng kể tình trạng bỏ rơi trẻ em.

2.2. Giải pháp cho Việt Nam

Việt Nam cần áp dụng các giải pháp toàn diện bao gồm giáo dục cộng đồng, hỗ trợ tâm lýhệ thống pháp luật mạnh mẽ hơn. Phòng ngừa bỏ rơi trẻ em cần được ưu tiên thông qua các chương trình tư vấn tâm lýhỗ trợ pháp lý cho các gia đình có nguy cơ cao.

III. Thực trạng và nguyên nhân tại Việt Nam

Thực trạng bỏ rơi trẻ em tại Việt Nam đang ở mức báo động, với số lượng trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tăng cao trong những năm gần đây. Nguyên nhân chủ yếu bao gồm nghèo đói, thiếu nhận thứcáp lực xã hội. Các giải pháp cần tập trung vào việc giải quyết những nguyên nhân này để giảm thiểu tình trạng bỏ rơi trẻ em.

3.1. Nguyên nhân tâm lý và xã hội

Nguyên nhân tâm lý như căng thẳng và trầm cảm sau sinh là yếu tố chính dẫn đến bỏ rơi trẻ em. Nguyên nhân xã hội bao gồm nghèo đói và thiếu hỗ trợ xã hội. Các giải pháp cần tập trung vào việc cung cấp hỗ trợ tâm lýhỗ trợ xã hội cho các bà mẹ có nguy cơ cao.

3.2. Giải pháp pháp lý và xã hội

Việt Nam cần tăng cường hệ thống pháp luật để xử lý nghiêm minh các hành vi bỏ rơi trẻ em. Đồng thời, các chính sách xã hội như hỗ trợ tài chínhgiáo dục cộng đồng cần được triển khai rộng rãi để giảm thiểu tình trạng này.

21/02/2025
Đề tài nghiên cứu khoa học những vấn đề tâm lý xã hội và pháp lý của việc bỏ rơi bỏ mặc trẻ em kinh nghiệm của một số quốc gia và giải pháp xử lý cho việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 phân VIII Bô luật Phúc lợi Tré em và Thanh tiên của Phillippines’, định nghĩa về trễ em ‘bi b6 rơi và trễ em bị bỗ mac nin sau: “.(3) Trẻ em bị bỏ rơi là trẻ em không được cha me chăm sóc hoặc giảm hộ thích hợp hoặc là tré em bi cha mẹ hoặc người giám hộ bỏ rơi trong it nhất sáu tháng liên tue (3) Trẻ em bị bỏ mặc la trẻ em bi cô tinh bỗ qua nhủ: cẩu cơ bản hoặc không được thực hiện đầy di.” Theo pháp luật Viét Nam, cụ thé là Luật Trẻ em năm 2016, trễ em bị bỏ rơi nằm trong nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. đông thời hành vi bé roi, bỏ mặc trẻ em cũng được quy dinh là một trong các hình thức xâm hai trẻ em Luật này định ngiĩa "bö rơi, bd mặc trẻ em là hành vi của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em không thực hiện hoặc thực hiện không !? Nguyễn Thánh Minh chủ biên (1999),tiđd,tr. © Arizona Revised Statutes (Đạo Init Sữa đổi của tiêu bang Arizona): https nny azleg gov/arstitle/ !4 Child And Youth Welfare Code of the Philippines (Bộ hút Phúc loi Tr? em va Thanh niền của Phillippines) lứtps://chazgobles com/childandyoutluve ifarecodeofthephilppines lu Y-UUSS P3IV ' Khoản5 Điều ‡ vì Điểm a Khoản 1 Đầu 10 Luật Trẻ em 2016. 13 day đủ ngiĩa vụ, trách nhiệm của minh trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em” 15, Từ quy định trên ta có thé hiểu một người được coi là có hành vi bỗ rơi, bd mac tré em thì phải đáp ung được hai điêu kiện @ chủ thé thực hiện hành vi là cha, me, người chăm sóc trẻ em và Gi) không thực hiện hoặc thực hién không đây đủ nghĩa vụ, trách nhiém của mình trong việc cham sóc, nudi dưỡng trẻ em.

Tuy nhiên, trong phân giải thích từ ngữ vé bỏ rơi, bỏ mac trẻ em tai Khoản9 Điều 4 Luật Trẻ em 2016 lai không phân biệt rõ rang giữa hành vi bổ rơi trẻ em và hành vi bö mac trẻ em ma chỉ quy định chung bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em được hiểu như thê nào. Theo quan điểm của nhóm tác giả, quy định này khiên cho người đọc luật khó có thê phân biệt hai hành vị trên Do vậy, Luật cân có quy định cu thé thé nao là hanh vi bỏ rơi trễ em, thé nao là hành vi b6 mac trẻ em. Dưới góc độ nghiên cum của minh, nhóm tác giả cho rang “bd mac trễ em” được hiểu là hành vị cha me không quan tâm, thờ ơ, lạnh nhat, trên tránh nghĩa vu cham sóc, nuôi đưỡng con cái. Tré em có thể vẫn được sông tại gia đình, sống cùng với cha me nhưng cha mẹ thực hiện không day đủ trách nhiém của minh đôi với trẻ em.

“Bỏ rơi” trẻ em được hiểu là hành vi cha mẹ từ bỏ nghia vụ chăm sóc con cái, không quan tam đến sự sông cờn của trẻ em, không thực hiện trách nhiệm của người làm cha mẹ. Trong trường hop nay, đứa trẻ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt không nơi nương tựa, không đủ điều kiện dé thực hiện các quyền của minh Từ những phân tích ở trên nhóm tác giả đưa ra định nghia về hành vi bỏ rơi, bé mac trẻ em như sau: Bo rơi trẻ em là hành vi cha. me người chăm sóc từ bỏ, không midi dưỡng cham sóc khiển cho trẻ không dit đều kiên dé thực hiện các quyên cơ bản theo quy đình pháp luật: cẩn có sự hỗ tro, can thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình và xã hội dé được an toàn, hòa nhập gia đình công đồng Bỏ mặc trẻ em là hành vi hành vi cha, me người chăm sóc thực hiện không day đủ ngiữa vị, trách nhiễm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em khiến cho trẻ không dit điều liện dé thực hiện các quyển cơ ban theo quy dinh pháp luật; cẩn có sự hỗ tro, can thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình và xã hội dé được an toàn. hòa nhập gia đình công đồng.

Đặc điểm của hành vỉ bỏ rơi, bỏ mac trẻ ent 1.2 1 Chic thé thực hiện hành vi '5 Khoản9 Điều# Luật Trš emnim 2016 14 Chủ thé của hành vi bỏ rơi, bỏ mac trẻ em bao gồm những chủ thể sau: cha, mẹ và người chăm sóc trẻ em Đôi với chủ thé là cha me, có thé chia thành hai trường hợp như sau: Thứ nhất. mốt quan hệ giữa trẻ em với cha, mẹ mới chỉ tôn tại trên thực tế về mat Tuyệt thông Ở trường hợp này, đứa trẻ vừa mới được sinh ra đã bị cha, me bỏ roi. Lúc nay, ngudi me có thé mới có giây chúng sinh (trường hop sinh con ở bệnh viên) hoặc thâm chi không có giây chứng sinh (trong trường hợp người mẹ tự sinh cơn mà không sinh cơn ở bệnh viện). Như vậy, trường hợp này quan hệ giữa cha me và con ở góc độ gia đính chi moi xác định về mat huyết thông.

trên thực tê chứ chưa tôn tại về mat pháp lý” Tuy nhiên, trách nhiém chăm sóc và duy trì sự sông cho đứa trẻ đã phát sinh va vi vây xét ở góc đô pháp lý hình sự thi người cha, me trong trường hợp nay có thể sẽ phải chịu trách nhiệm nêu hanh vi dẫn đến thiét hại về sức khỏe và thậm chi là tính mang của trẻ. Thứ hai, méi quan hệ giữa giữa trẻ em với cha, me đã được xác định về mat pháp ly nhung cha, me lai có hành vi 06 rơi, bỏ mặc trẻ em. Đối với chủ thé là người chăm sóc trẻ em, chủ thé này được hiểu là người đảm nhận. nhiém vu cham sóc trẻ em, bao gồm người giám hô của trễ em; người nhận cham sóc thay thé hoặc người được giao trách nhiệm cùng với cha, me của trẻ em cap dưỡng, chăm sóc, bảo vệ trẻ em.

Trong trường hợp trẻ không còn cha, me hoặc không xác định được cha, mẹ, cha me của trẻ đều bi hạn chê hoặc mat năng lực hành vi dân sự, cha, mẹ đều không có điều kiện cham sóc, giáo duc trẻ và có yêu câu người giám hộ thì trẻ mới có người giám hộ. Người giám hộ của trẻ có thê là anh ruột, chỉ ruột, ông bà nội, ông bà ngoại, bác ruột, clu ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc di ruột của trẻ. Người nhận chăm sóc thay thê trẻ em có thé là người thân thích hoặc cá nhân, gia dinh không phải là người thân thích Ngoài ra, trẻ em có thé được chăm sóc thay thé bằng hình thức nhận con nuôi hoặc chăm sóc thay thé tại cơ sở trợ giúp xã hội. 1122 Đối tượng của hành vi Trẻ em là đôi tượng cân được quan tâm, cham sóc và bảo vệ của gia đình và xã hội.

Nhận thức được điều đó, ngay từ sớm, pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật Viét Nam nói riêng đã có những quy định khá chặt chế và cụ thể nhằm bão đảm quyền của trẻ em, nang cao chat lượng sông cho trẻ. Tuy nhiên, trong những năm gân đây, tình hình bỏ rơi trẻ © Nguyễn Thi Lan (2012), “Tré em bị bố rơi — Trách nhiệm của cha mẹ, người thân thích và số hội”, Để tài nginén cửu khoa học cấp trường ''Pháp luật Việt Nhan về quyển tré em và thuc tiễn thee liển ở Việt Nem”, Khoa Pháp lật Din sự, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội,tr. 15 em van tiếp tục có những dién biên phức tạp, gia tăng cả về mức độ nghiêm trong và số lượng vụ việc Hiện nay có rất nhiều cách định ngiữa khác nhau về trẻ em va mối cách định nghĩa lai thé hiện một cách nhìn nhân khác nhau về van đề nay. Xét về góc dé sinh học, trẻ em là người phát triển chưa day đủ về thé chất, trí tuệ và nhân cách, là đối tượng mà chưa có day đủ khả năng tự lập trong cuộc sóng, khả năng đánh.

gia hành vi và định hướng phát triển, khả năng tự bảo vé minh khối các tác động tiêu cực từ bên ngoài. Xét về góc độ xãhội, trš em là một bộ phân của cơ câu xã hội, có vai trò, có vị thê xã hôi khác với người lớn Trẻ em được xã hội quan tâm tạo điều kiện sinh thành, bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển thành người lớn. Xétvé góc độ tâm lý, trẻ em là khái miém được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sư phát triển tâm lý va nhân cách của con người, được xác dinh căn cử vào độ tuôi và tâm lý theo tùng giai đoạn Theo quan điểm của các nhà tâm ly học, tuổi 18 là tuổi kết trúc của trẻ em, bởi lế ở độ tuổi này con người đã có su phát triển day đủ vệ thé chất, trí tuệ, tâm hôn, khả năng làm chủ nhận thức và có hành vi xử sự phù hop Xét về góc độ pháp lý, khái tiệm tré em được tiếp cân theo độ tuổi. Khái niệm này đã được quốc tê sử dụng thông nhật va được đề cập trong nhiêu văn kiện như Tuyên ngôn Giơ- ne-vơ năm 1924, Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyên trẻ em năm 1949, Công ước Liên hợp quốc về quyên trẻ em năm 1989,.

Theo đó, trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ mét nhóm xã hội thuộc vé một đô tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của su phát triển con người. Trong giai đoạn dau của sự phát triển con người, trẻ em có nhiing đặc điểm cơ bản trong mỗi nhóm tuổi nhất dinh Theo Điều 1 Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em nam 1990 thì “Trẻ em là bắt kỳ người nào dưới 18 trôi trừ kia pháp luật quốc gia quy đình trôi thành niên sớm hơn”. G Việt Nam, khái niệm trẻ em được quy định tại Điều 1 Luật trễ em nếm 2016 theo đó “Tré em là người dưới 16 tuổi ”. Từ những phân tích ở trên ta có thé hiéu trẻ em là một nhóm người ở một dé tuổi nhất đình trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người, có các đặc điểm như là chưa tướng thành.

còn non nót về thé chất và trí tuệ, dé bị tôn thương được pháp luất quy định những quyén đặc thit theo lứa tôi của minh. Tinh chất của hành vi Hanh vi bỏ rơi, bỏ mặc gây ra tên thương năng nề đến sức khöe va tinh thân của trẻ em. Xuất phát từ đặc điểm đối tương là trẻ em, lứa tuổi này đặc biệt dé bị tôn thương do chu thé rihận thức và suy nghi toàn diện về các vân đà trong cuộc sông Do đó, khi cha mẹ 16 hoặc người chăm sóc không thực hién trách nhiệm của minh sẽ khién cho những đứa trẻ cảm thây minh không được yêu thương, chăm sóc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu vấn đề tâm lý xã hội và pháp lý khi bỏ rơi trẻ em: Kinh nghiệm quốc tế và giải pháp cho Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thách thức tâm lý và pháp lý mà trẻ em phải đối mặt khi bị bỏ rơi. Tác giả không chỉ phân tích các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này mà còn đưa ra những kinh nghiệm từ các quốc gia khác, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp cho Việt Nam. Độc giả sẽ nhận thấy tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi trẻ em và những biện pháp cần thiết để cải thiện tình hình hiện tại.

Để mở rộng thêm kiến thức về vấn đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Khóa luận tốt nghiệp bảo vệ quyền của trẻ em trước nạn bạo lực gia đình ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách thức bảo vệ quyền lợi của trẻ em trong bối cảnh bạo lực gia đình, từ đó cung cấp thêm góc nhìn và giải pháp cho vấn đề phức tạp này.