Tổng quan nghiên cứu

Tính đến cuối năm 2017, Việt Nam có hơn 26,63 triệu trẻ em, trong đó khoảng 1,75 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt rất cần sự trợ giúp từ các chính sách an sinh và nguồn lực xã hội. Dự báo đến năm 2020, trẻ em chiếm khoảng 30% tổng dân số cả nước, đặt ra yêu cầu cấp bách về việc xây dựng mạng lưới bảo trợ toàn diện. Là quốc gia đầu tiên tại châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em (CRC) từ năm 1990, Việt Nam đã đạt nhiều bước tiến lập pháp quan trọng, tiêu biểu là việc ban hành Luật Trẻ em năm 2016. Tuy nhiên, tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế khó khăn và khoảng cách tiếp cận dịch vụ công khiến nguy cơ trẻ em bị xâm hại, bạo lực và bỏ học vẫn ở mức cao.

Vấn đề đặt ra là Nhà nước không thể đơn độc đảm đương toàn bộ mạng lưới bảo trợ mà cần sự chung tay mạnh mẽ của các tổ chức xã hội. Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Pháp luật về quyền con người (mã số 8380101.07) của học viên Nguyễn Đình Đức, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Lã Khánh Tùng tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019, tập trung làm rõ vai trò của các tổ chức phi chính phủ (NGOs) trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em. Mục tiêu nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn hoạt động và nhận diện các rào cản pháp lý nhằm đề xuất giải pháp tối ưu hóa nguồn lực phi chính phủ. Phạm vi nghiên cứu bao quát tình hình hoạt động của các NGOs tại Việt Nam trong giai đoạn 10 năm (2008–2018), tập trung vào các tổ chức quốc tế lớn và mạng lưới hơn 40 tổ chức xã hội dân sự trong nước, mang lại cơ sở thực chứng giá trị cho việc hoàn thiện chính sách nhân quyền.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết chuẩn mực của Luật Nhân quyền quốc tế, trọng tâm là lý thuyết về ba tầng nghĩa vụ của Nhà nước gồm: Tôn trọng (Respect), Bảo vệ (Protect) và Thực thi (Fulfill). Trong cấu trúc này, các tổ chức phi chính phủ đóng vai trò là chủ thể hỗ trợ độc lập, thúc đẩy cơ quan công quyền thực hiện nghĩa vụ và trợ giúp người thụ hưởng tiếp cận quyền.

Bên cạnh đó, nghiên cứu phát triển khung phân tích dựa trên 4 nguyên tắc cốt lõi của Công ước CRC năm 1989: không phân biệt đối xử (Điều 2), lợi ích tốt nhất của trẻ em (Điều 3), quyền sống còn và phát triển (Điều 6), và tôn trọng ý kiến của trẻ em (Điều 12). Khung lý thuyết phân biệt rõ hai phương thức can thiệp: cách tiếp cận dựa trên nhu cầu truyền thống (từ thiện, bị động) và cách tiếp cận dựa trên quyền (trao quyền, giải trình, bền vững) theo bộ tiêu chí giám sát của Joachim Theis (2004). Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm nền tảng:

  • Quyền trẻ em: Quyền con người dành riêng cho người dưới 18 tuổi theo tiêu chuẩn quốc tế và dưới 16 tuổi theo Luật Trẻ em 2016.
  • Tổ chức phi chính phủ (NGO): Thực thể phi lợi nhuận, thành lập tự nguyện, độc lập với sự điều hành trực tiếp của bộ máy nhà nước.
  • Tổ chức phi chính phủ nước ngoài (INGO): Thực thể thành lập theo luật pháp nước ngoài, hoạt động nhân đạo và phát triển tại Việt Nam theo Nghị định số 12/2012/NĐ-CP.
  • Bảo trợ trẻ em (Child Sponsorship): Mô hình gây quỹ và phát triển cộng đồng thông qua cam kết tài trợ quan hệ 1:1 giữa nhà hảo tâm và từng trẻ em thụ hưởng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp đa tầng, bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Hiến pháp 2013, Luật Trẻ em 2016, Nghị định số 93/2009/NĐ-CP, Nghị định số 30/2012/NĐ-CP), các văn kiện quốc tế của Liên Hợp Quốc và báo cáo thường niên giai đoạn 2011–2017 của hơn 30 tổ chức phi chính phủ đang hoạt động tại Việt Nam.

Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng và định tính bao gồm 30 tổ chức phi chính phủ quốc tế tiêu biểu trong Nhóm công tác về Quyền trẻ em (thuộc Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị Việt Nam - VUFO), kết hợp khảo sát thực tế tại 4 tỉnh trọng điểm đại diện các vùng miền gồm Sơn La, Thanh Hóa, Phú Thọ và Kon Tum. Mẫu dữ liệu thụ hưởng bao quát hơn 76.000 hồ sơ trẻ em thuộc Tổ chức Tầm nhìn Thế giới (World Vision) và hơn 9.000 hồ sơ thuộc Tổ chức Good Neighbors International (GNI). Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng nhằm chọn lọc các đơn vị có ngân sách hoạt động hàng năm trên 1 triệu USD và thời gian hiện diện trên 10 năm tại Việt Nam.

Nghiên cứu kết hợp phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích luật học so sánh, tổng hợp thống kê và phân tích quy trình thủ tục hành chính. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đối chiếu khoảng cách giữa quy định pháp luật trên văn bản và thực tiễn thi hành, từ đó lượng hóa chính xác thời gian thẩm định dự án và hiệu quả sử dụng nguồn vốn viện trợ phi chính phủ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, các tổ chức phi chính phủ đóng góp nguồn lực vật chất và hạ tầng khổng lồ cho công tác chăm sóc trẻ em nghèo. Năm 2017, Tổ chức Tầm nhìn Thế giới trao tặng gói viện trợ trị giá 350.000 USD từ các tập đoàn cho 12.186 người lớn, phân phát 42.630 áo ấm cho 32.185 trẻ em tại 7 huyện khó khăn thuộc Tuyên Quang, Điện Biên và Thanh Hóa. Cùng năm, ChildFund tài trợ 82 máy tính, 6 máy chiếu cho 6 trường học, hoàn thiện công trình nước sạch và vệ sinh cho 951 hộ dân; GNI xây dựng trường tiểu học Đông Lợi trị giá 5 tỷ đồng (nguồn viện trợ 160.000 USD) và lắp đặt 746 bồn chứa nước sạch sinh hoạt.

Thứ hai, mô hình bảo trợ trẻ em cá nhân chiếm ưu thế lớn trong cơ cấu ngân sách nhưng tạo ra ranh giới về tính bền vững. Tại tổ chức Good Neighbors International năm 2015, nguồn thu từ bảo trợ trẻ em chiếm tới 61% tổng ngân sách, trong khi ở Tổ chức Cứu trợ Trẻ em Quốc tế (Save the Children) năm 2016 với ngân sách 2,1 tỷ USD toàn cầu, tài trợ từ chính phủ chiếm 58%, bảo trợ cá nhân chiếm 25%, doanh nghiệp chiếm 13% và hàng viện trợ chiếm 2%. Sự phụ thuộc vào nhà tài trợ cá nhân buộc các tổ chức phải duy trì mạng lưới gửi thư, thăm hỏi định kỳ cho 76.000 trẻ tại World Vision và 9.000 trẻ tại GNI, tiêu tốn khoảng 20% đến 30% thời lượng hoạt động của nhân sự dự án.

Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ khẳng định vai trò trụ cột trong việc cung cấp dịch vụ chuyên sâu và thúc đẩy quyền tham gia của trẻ. Hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam vận hành tại 17 tỉnh, thành phố với gần 70 chương trình, nuôi dưỡng trực tiếp 3.100 trẻ mồ côi và hỗ trợ tích lũy cho hơn 260.000 trẻ em. Năm 2017, World Vision đồng hành tổ chức Diễn đàn Trẻ em Quốc gia lần thứ 5 với 200 đại biểu trẻ em từ 29 địa phương, đồng thời hỗ trợ thực hiện 66 sáng kiến do chính các em tự lập kế hoạch và điều hành.

Thứ tư, rào cản hành chính gây tắc nghẽn dòng vốn viện trợ. Khảo sát tại 4 tỉnh Sơn La, Thanh Hóa, Phú Thọ và Kon Tum cho thấy thời gian trung bình phê duyệt dự án INGO thường kéo dài từ 6 đến 12 tháng, trong khi quy định văn bản yêu cầu không quá 30 ngày.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bổ ngân sách có thể được biểu diễn rõ nét qua biểu đồ cơ cấu tài chính: Save the Children có nguồn thu đa dạng từ các chính phủ đối tác (58%), trong khi các tổ chức như GNI hay World Vision Việt Nam dựa chủ yếu vào nguồn bảo trợ 1:1 (chiếm trên 60%). Điều này cho thấy khi Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, nguồn viện trợ không hoàn lại từ các chính phủ nước ngoài có xu hướng giảm khoảng 15% đến 25%, khiến mô hình bảo trợ cá nhân trở thành điểm tựa tài chính then chốt.

Nguyên nhân của việc kéo dài thời gian phê duyệt hồ sơ bắt nguồn từ Nghị định số 93/2009/NĐ-CP và Thông tư số 07/2010/TT-BKH, đòi hỏi quy trình thẩm định qua nhiều cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Công an tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các Bộ ngành Trung ương. Biểu đồ khảo sát thời gian giải quyết thủ tục tại 4 địa phương miền núi phản ánh thực tế độ trễ hành chính làm giảm tính cấp bách của các gói hỗ trợ thiên tai và giáo dục.

So với các nghiên cứu trước đây về bảo trợ xã hội, luận văn làm rõ sự chuyển đổi từ hỗ trợ từ thiện đơn thuần sang thực hiện Điều 92 Luật Trẻ em 2016. Tuy nhiên, tính độc lập trong việc giám sát thực thi quyền trẻ em của mạng lưới CRnet (hơn 40 tổ chức) vẫn bị hạn chế do Hội Bảo vệ Quyền trẻ em Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước trực tiếp của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội theo Quyết định số 464/QĐ-BNV.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Cải cách thủ tục phê duyệt và quản lý viện trợ phi chính phủ: Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp cùng Ban Điều phối Viện trợ Nhân dân (PACCOM) trình Chính phủ sửa đổi Nghị định số 93/2009/NĐ-CP, thiết lập cổng dịch vụ công trực tuyến một cửa liên thông nhằm rút ngắn thời gian phê duyệt văn kiện dự án từ mức 6–12 tháng xuống tối đa 45 ngày làm việc trước quý 4 năm 2020.
  • Hoàn thiện hành lang pháp lý về đăng ký tư cách pháp nhân cho các tổ chức trong nước: Bộ Nội vụ cần sửa đổi Nghị định số 30/2012/NĐ-CP và Nghị định số 08/2014/NĐ-CP, chuyển từ cơ chế "xin - cho" cấp phép thành lập sang cơ chế "đăng ký và hậu kiểm", giảm 50% yêu cầu về mức vốn điều lệ tối thiểu đối với các quỹ từ thiện hoạt động chuyên biệt vì trẻ em có hoàn cảnh khó khăn giai đoạn 2020–2022.
  • Chuẩn hóa năng lực tiếp cận dựa trên quyền cho đội ngũ cán bộ: Các tổ chức INGO cam kết trích lập tối thiểu 15% tổng kinh phí quản lý dự án hàng năm để đào tạo kỹ năng giám sát độc lập, chính sách an toàn bảo vệ trẻ em và phương pháp tiếp cận quyền cho 100% nhân sự cơ sở và đối tác công quyền địa phương đến hết năm 2021.
  • Xây dựng cơ chế hợp tác công - tư và đảm bảo vốn đối ứng: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành quy chế phối hợp chuyên đề, bố trí nguồn ngân sách đối ứng địa phương tối thiểu đạt 20% đến 30% trên tổng giá trị dự án do các NGOs tài trợ, tập trung triển khai hiệu quả Chương trình Bảo vệ Trẻ em giai đoạn 2021–2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Chuyên viên tại Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Ngoại giao, PACCOM, Ủy ban Công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (COMINGO) sử dụng luận văn làm căn cứ rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính và xây dựng cơ chế quản lý viện trợ nhân đạo.
  • Lãnh đạo và cán bộ điều phối dự án tại các tổ chức phi chính phủ: Đội ngũ chuyên gia thuộc các tổ chức như Save the Children, World Vision, Plan International, ChildFund, GNI ứng dụng tài liệu để chuyển đổi phương pháp lập kế hoạch từ đáp ứng nhu cầu sang tiếp cận dựa trên quyền, tối ưu hóa quy trình quản lý 76.000 trẻ bảo trợ.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Luật học: Nguồn tư liệu chuyên khảo giá trị cho các bộ môn Pháp luật về quyền con người, Luật Quốc tế, Công tác xã hội và Xã hội học pháp luật trong việc phân tích chuẩn mực CRC và Điều 92 Luật Trẻ em 2016.
  • Các tổ chức xã hội dân sự, cơ sở bảo trợ và mái ấm cộng đồng: Cán bộ tại hệ thống Làng trẻ em SOS, Hội Bảo vệ Quyền trẻ em và các câu lạc bộ thanh thiếu niên tham khảo các mô hình can thiệp thực địa, từ đó nâng cao kỹ năng truyền thông phòng chống bạo lực và thúc đẩy sự tham gia của trẻ em.

Câu hỏi thường gặp

  • Tiếp cận dựa trên quyền khác gì so với tiếp cận dựa trên nhu cầu truyền thống? Tiếp cận dựa trên nhu cầu xem trẻ em là đối tượng thụ hưởng từ thiện thụ động, giải quyết thiếu thốn trước mắt. Ngược lại, tiếp cận dựa trên quyền xác định trẻ em là chủ thể mang quyền, yêu cầu Nhà nước và xã hội thực hiện nghĩa vụ bắt buộc, tập trung giải quyết nguyên nhân gốc rễ và nâng cao trách nhiệm giải trình.

  • Vì sao mô hình bảo trợ trẻ em 1:1 vẫn đóng vai trò quan trọng tại Việt Nam? Mô hình này tạo nguồn thu ổn định từ hàng chục nghìn nhà tài trợ cá nhân quốc tế (chiếm tới 61% ngân sách tại GNI), ít bị cắt giảm khi Việt Nam đạt mức thu nhập trung bình. Mô hình giúp duy trì nguồn lực hỗ trợ liên tục, lâu dài cho hơn 76.000 trẻ em vùng đặc biệt khó khăn.

  • Điều 92 Luật Trẻ em 2016 quy định trách nhiệm gì đối với các tổ chức phi chính phủ? Điều 92 quy định 3 trách nhiệm chính: tham gia xây dựng và giám sát thực hiện chính sách pháp luật về trẻ em; tiếp nhận thông tin, phản ánh kiến nghị bảo vệ trẻ; và trực tiếp cung cấp dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em theo sự ủy quyền hoặc hỗ trợ của Nhà nước.

  • Rào cản pháp lý lớn nhất đối với các tổ chức phi chính phủ hiện nay là gì? Rào cản lớn nhất là thời gian phê duyệt chương trình, dự án viện trợ kéo dài 6 đến 12 tháng theo Nghị định số 93/2009/NĐ-CP. Đồng thời, thủ tục thành lập quỹ xã hội theo Nghị định số 30/2012/NĐ-CP còn nặng về cơ chế xin phép, khiến các tổ chức trong nước khó đăng ký tư cách pháp nhân chính thức.

  • Trẻ em tại Việt Nam được tham gia vào các quyết định của dự án phi chính phủ như thế nào? Trẻ em được tham gia thông qua các câu lạc bộ kỹ năng sống, các diễn đàn đối thoại định kỳ như Diễn đàn Trẻ em Quốc gia lần thứ 5 với 200 đại biểu, và trực tiếp đề xuất, thực thi 66 sáng kiến cộng đồng do các tổ chức như World Vision hay ChildFund hỗ trợ tài chính.

Kết luận

  • Khẳng định vai trò không thể thay thế của các tổ chức phi chính phủ trong việc cung ứng hạ tầng, dịch vụ y tế, giáo dục và nguồn viện trợ hàng trăm triệu USD cho trẻ em nghèo Việt Nam.
  • Ghi nhận bước chuyển biến chiến lược từ cứu trợ từ thiện thuần túy sang áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền theo chuẩn mực Công ước CRC 1989.
  • Chỉ rõ điểm nghẽn hành chính trong việc phê duyệt dự án (kéo dài 6-12 tháng) và sự thiếu hoàn thiện của khung pháp lý đối với việc công nhận tư cách pháp nhân của các tổ chức xã hội nội địa.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm cải cách thể chế quản lý viện trợ, củng cố cơ chế giải trình và phát triển quan hệ đối tác công - tư đến năm 2025.
  • Đề nghị các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và mạng lưới tổ chức phi chính phủ nhanh chóng thể chế hóa các khuyến nghị, tạo hành lang thuận lợi nhất vì sự phát triển toàn diện của thế hệ trẻ.