đặt vấn đề phụ nữ một cách biệt lập. Phụ nữ coi như là một nhóm đặc thù và những can thiệp đưa ra cũng là những giải pháp đặc thù riêng cho phụ nữ. Thứ hai, WID dựa trên quan niệm cho rằng các vấn đề phát triển sẽ được giải quyết tốt hơn nếu đảm bảo được dự tham gia đầy đủ của phụ nữ vào quá trình phát triển. Thứ ba, WID chỉ nhìn nhận vai trò và vị trí của phụ nữ trong quá trình phát triển chưa coi phụ nữ là chủ thể của quá trình phát triển.
Vì thế, đến nửa sau của những năm 1970, thuật ngữ phụ nữ và phát triển (WAD) đã ra đời dựa trên quan điểm của nữ quyền Mác-xít cho rằng, phụ nữ là chủ thể của sự phát triển phát triển phụ nữ cùng song song tồn tại với sự phát triển nói chung. WAD đã khắc phụ được nhược điểm của WID. Tuy nhiên, giống như WID thì khi thực hiện các chương trình phát triển, nhất là phát triển nông thôn, WAD vẫn có xu hướng tập trung nhiều vào phụ nữ, nhóm gộp các vấn đề của phụ nữ không phân tích đầy đủ các yếu tố tác động đến vị thế của phụ nữ trong xã hội như sự phân chia giai cấp, chủng tộc và tư tưởng phụ quyền (Evam, 2003). Khắc phục nhược điểm này của WAD, thuật ngữ “Giới và phát triển” (GAD) đã ra đời vào những năm 1980.
GAD có cơ sở lý luận nằm trong khuôn khổ nữ quyền xã hội chủ nghĩa. GAD không quan tâm đến phụ nữ một cách riêng biệt mà chú ý tới cơ cấu xã hội theo giới và sự phân chia vai trò, trách nhiệm và những mong đợi đặc thù giữa nam và nữ. GAD chú ý tác động qua lại giữa nam và nữ trong quá trình phát triển. Các vấn đề phát triển được 3 xem tổng hòa và sự lồng ghép đảm bảo sự tham gia đầy đủ giữa nam và nữ, không nhấn mạnh một cách biệt lập vai trò của phụ nữ trong cách tiếp cận WID (Đỗ Thanh Bình, Trần Thị Vân Anh, 2003) Quan điểm GAD được thể hiện nhiều trong việc thực hiện các chương trình và dự án phát triển nông thôn.
GAD cho rằng phụ nữ là chủ thể chủ yếu của sự đổi mới hơn là đơn thuần là người hưởng lợi.2 Vai trò của giới trong phát triển kinh tế - xã hôi Nữ giới và nam giới đóng vai trò khác nhau trong ba mặt: Hoạt động sản xuất tạo ra thu nhập trong gia đình; Tái sản xuất, sinh con và trách nhiệm nuôi nấng cần thiết để đảm bảo, duy trì, tái sản xuất sức lao động; Thực hiện các công việc quản lý cộng đồng a. Vai trò sản xuất Đối với phụ nữ trong nông nghiệp vai trò đó bao gồm công việc của những người nông đân độc lập. Vai trò sản xuất của giới trong nông nghiệp và nông thôn cũng liên quan đến việc quyết định sản xuất – kinh doanh (sản xuất sản phẩm và dịch vụ gì và bao nhiêu, dùng cộng nghệ như thế nào?) quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh (ai điều hành lúc nào và như thế nào?), quản lý rủi ro và tận dụng cơ hội trong kinh doanh (ai quy định điều gì? Và quyết định như thế nào khi xảy ra rủi ro hay có cơ hội), quá trình quản lý thành quả sản xuất - kinh doanh. Vai trò tái sản xuất Vai trò tái sản xuất thể hiện vai trò của nữ trong việc tái sinh, duy trì giống, tái sản xuất sức lao động, bao gồm trách nhiệm mang thai, sinh đẻ hoặc nuôi dưỡng chăm sóc các thành viên trong gia đình, công việc nhà như dọn dẹp nhà cửa và nội trợ.
Vai trò đó không chỉ bao gồm sự tái sản xuất sinh học mà còn có cả chăm lo và duy trì lực lượng lao động sau này. Các công việc tái sản xuất có khuynh hướng, dường như là công việc dành riêng cho phụ nữ. Vai trò quản lý cộng đồng và công tác xã hội ở cộng đồng Vai trò quản lý cộng đồng gồm các hoạt động do nữ giới và nam giới thực hiện ở cấp cộng đồng nhằm bảo vệ và duy trì các nguồn lực khan hiếm của cộng đồng, thực hiện các nhu cầu của cộng đồng, quản lý sự thay đổi và làm cho cộng đồng phát triển. Vai trò cộng đồng được chia làm 2 loại: 5 Vai trò tham gia cộng đồng: Vai trò này được thể hiện ở sự tham gia của nam và nữ trong các hoạt động cộng đồng.
Hoạt động cộng đồng rất đa dạng, tùy theo bản sắc riêng của từng cộng đồng như các hoạt động chung của cộng đồng: Xây dựng cơ sở hạ tầng, quản lý tài sản công, tham gia vào lễ hội, văn hóa, giáo dục, y tế, quản lý nguồn nước quản lý và bảo vệ rừng, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường của cộng đồng. Thường thì phụ nữ tham gia vào các hoạt động lễ hội, giáo dục mầm non, y tế cơ sở, kiếm củi, lấy nước quản lý tài nguyên thiên nhiên. Trừ các công việc giáo dục, y tế, các hoạt động khác là những công việc “không được trả công” và là việc làm có tính “tự nhiên và tự nguyện”. Đối với phụ nữ, công việc này như là một sự mở rộng vai trò tái sản xuất của họ.
Vai trò lãnh đạo cộng đồng: Nam và nữ có vai trò khác nhau trong tham gia các hoạt động lãnh đạo quản lý cộng đồng. Lãnh đạo cộng đồng là lãnh đạo các tổ chức cộng đồng như chủ tịch UBND xã, Hội nông dân, Hội phụ nữ…Lãnh đạo cộng đồng trong một xã hội chính trị - dân sự phát triển được chia thành 2 nhóm: Nhóm thuộc về quản lý nhà nước và được ngân sách chi trả và nhóm xã hội dân sự và được kinh phí tự tạo của các tổ chức đó chi trả. Dù là nhóm nào thì phần lớn việc lãnh đạo cộng đồng đều được tiền trực tiếp hoặc gián tiếp bằng tiền công hoặc tăng thêm vị thế quyền lực. Thông thường các công việc này do nam giới đảm nhiệm.
Một số ít các vai trò do nữ đảm nhiệm.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò giới trong phát triển kinh tế và xã hội a. Quan điểm về giới và những phong tục tập quán Trên thế giới ngày càng có nhiều nghiên cứu chứng minh mối quan hệ khăng khít giữa công bằng giới và phát triển nông thôn. Bình đẳng giới sẽ đảm bảo cho phép tăng trưởng kinh tế bền vững và hiệu quả, gia đình xã hội phát triển ổn định. Quan điểm lịch sử coi nhẹ nữ giới, trong chế độ xã hội phong kiến vai trò của phụ nữ trong xã hội không được đề cao, họ phải tuân thủ những 6 luật lệ phong kiến và bị lệ thuộc vào chồng và con trai.
Công việc chính của họ là chăm sóc con cái và nội trợ, các hoạt động học tập thi cử và quản lý đấy nước đều do nam giới chi phối. Các quan niệm này ít nhiều đã ảnh hưởng đến thế hệ sau khiến cho nữ giới ít được đối sử ngang bằng với nam giới. Một số nước Á Đông trong đó có Việt Nam còn lưu giữ nhiều phong tục tập quán nhất là những vùng nông thôn nơi tiếp cận với nền kinh tế thị trường còn yếu, văn minh thường đến sau cùng nên những hủ tục có cơ hội hoành hành cản trở con người đặc biệt là phụ nữ nông thôn tham gia hoạt động, cống hiến cho gia đình và xã hôi. Như vậy chính quan niệm phong tập quán là một trong những nguyên nhân cơ bản cản trở trực tiếp sự tiến bộ giới và vai trò của họ trong phát triển kinh tế xã hội.
Khả năng tiếp cận nguồn lực và thông tin Thời đại ngày nay là thời đại của công nghệ thông tin nhờ có nó mà hoạt động của con người diễn ra nhanh chóng, chính xác và hỗ trợ tích cực cho mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó trở thành nhân tố không thể thiếu trong đới sống thường nhật. Thông tin không chỉ làm cho con người mở mang tầm hiểu biết mà còn giúp cho con người ứng dụng được kỹ thật tiến bộ nâng đời sống vật chất tinh thần. Tuy nhiên, trên thực tế hầu như sách báo tập trung ở thành thị trong khi phần lớn dân số sống ở nông thôn. Điều này đã làm hạn chế khả năng tiếp nhận và hiểu biết được những kiến thức áp dụng trong sản xuất và trong đời sông xã hội, đặc biệt là phụ nữ điều này làm hạn chễ vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế xã hội.
Trình độ học vấn chuyên môn kỹ thuật Ở những vùng nông thôn trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật thông tin nghe nhìn và sách báo đến với người nông dân còn nhiều hạn chế do vậy việc tiếp cận và nắm bắt thông tin khoa học liên quan đến kiến thức, phát triển sản xuất chăn nuôi và trồng trọt gặp nhiều khó khăn. 7 Trình độ học vấn thấp đã làm cho công tác xã hội hoạt động giáo dục, y tế, môi trường dân số rất khó triển khai tại các vùng nông thôn và hiệu quả thu được thấp hơn so với thành phố. Để xóa bỏ được nghèo thì cần trang bị kiến thức cho người dân đặc biệt là phụ nữ. Chính do thiếu kiến thức người phụ nữ đã không thể hiện được hết vai trò của mình.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.1 Tình hình phụ nữ trên thế giới Cùng với sự phát triển chóng mặt của nhân loại trên mọi lĩnh vực là những thay đổi không ngừng của phụ nữ trên nhiều phương diện.
Vấn đề bình đẳng giới đã được cải thiện song vẫn chưa thực sự mang lại kết quả. Phụ nữ tiếp tục bị thiệt thòi trên thị trường lao động, và tiếp tục tập trung ở một số ngành nghề giữ vị trí thấp, ít có tiếng nói và thu nhập thấp hơn so với nam giới. Phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ trẻ tuổi thường bị thất nghiệp nhiều hơn và lâu hơn nam giới. Theo số liệu của cơ quan thống kê quốc gia (NSO) Hàn Quốc cho biết, phụ nữ ở độ tuổi 30 hiện trở thành đối tượng dễ bị mất việc nhất trong bối cảnh thị trường việc làm eo hẹp như hiện nay, mặt khác trong chính sách việc làm của chính phủ thì chỉ tập trung vào đối tượng thanh niên, sinh viên trẻ và người lớn tuổi trên 50 như vậy thì phụ nữ 30 tuổi đang trở thành nạn nhân đầu tiên của tình trạng thất nghiệp.
Theo báo cáo mới được công bố về các khuynh hướngkinh tế toàn cầu của tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho biết lao động nữ là nạn nhân lớn nhất của sự suy thoái kinh tế: năm 2009 dự kiến có 22 triệu phụ nữ mất việc làm.