phần mở đầu, ết luận, danh m c tài liệu tham hảo và ph l c, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÔNG DÂN VÀ VAI TRÒ CỦA NÔNG DÂN TRONG CNH, HĐH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Một số vấn đề về nông dân, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH đất nƣớc 1. Quan niệm về nông dân và đặc điểm của nông dân Việt Nam hiện nay 1.
Quan niệm về nông dân Theo đại từ điển Tiếng Việt, nông dân được đ nh nghĩa là: “người lao động sống bằng nghề làm ruộng” [47,tr. Với tư cách đ nh nghĩa như vậy chưa thật sự đầy đủ bởi nông dân không chỉ nh ng người sống bằng nghề làm ruộng mà cả nh ng ngành nông nghiệp khác. Theo giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học do Hội đồng lý luận trung ương biên soạn thì khái niệm nông dân được hiểu như sau: “giai cấp nông dân là giai cấp của nh ng người lao động sản xuất vật chất trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp… trực tiếp s d ng (canh tác) một tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên là đất, rừng, biển để sản xuất ra nông sản” [38,tr. Các nhà inh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin c ng đã đưa ra quan niệm về nông dân thông qua các tác phẩm của mình: Trong tác phẩm “Ngày mười tám tháng sương mù của Louis onapoite” C.Mác có viết: “Tiểu nông là một khối quần chúng bao gồm tất cả các thành viên đều sống trong một bối cảnh như nhau, nhưng lại không nằm trong nh ng mối quan hệ nhiều mặt đối với nhau.
Phương thức sản xuất của họ không là cho họ có mối liên hệ với nhau mà lại làm cho họ cô lập với nhau… Mỗi giai đoạn nông dân gần như tự cấp tự túc hoàn toàn, sản xuất ra đại bộ phận nh ng cái mình tiêu dùng và do đó iếm tư liệu sinh hoạt của mình bằng cách trao đổi với thiên nhiên nhiều hơn là giao tiếp với xã hội” 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mác cho rằng nh ng người nông dân là nh ng người tư h u và sản xuất nhỏ. Họ là chủ sở h u nh ng tư liệu sản xuất nhỏ lẻ, manh mún như đất đai, nông c và do đó hông thể có nền kinh tế độc lập. Người nông dân “chỉ sống vì lợi ích riêng nhỏ nhất của họ vì cái khung c i, vì cái mảnh vườn cỏn con của họ và không biết gì đến phát triển mạnh mẽ đang lay động loài người ở bên ngoài xóm làng của họ” [8,tr.
Trong xã hội phong kiến và tư bản chủ nghĩa họ b bóc lột nặng nề nên họ có tư tưởng phản háng và đấu tranh gay gắt họ có thể theo giai cấp vô sản trong cách mạng để đấu tranh giải phóng mình. Tuy nhiên vì là người tư h u nhỏ nên có thể tự phát thỏa hiệp với tư sản và đ a chủ để bảo vệ tài sản nhỏ bé của mình. Ăngghen cho rằng: “Tiểu nông mà chúng ta nói tới ở đây chỉ là người chủ ruộng đất hoặc người tá điền là nhất là người chủ một mảnh vườn ruộng không lớn hơn mảnh ruộng cần thiết để nuôi gia đình họ. Như vậy, c ng như tiểu thủ công nghiệp, người tiểu nông này là người lao động, anh ta khác với người lao động vô sản hiện đại ở chỗ anh ta c n có tư liệu lao động, như vậy anh ta là tàn dư của một phương thức sản xuất lỗi thời”[73].
Trên cơ sở kế thừa quan điểm của C.Ăngghen về nông dân trong điều kiện mới là chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đọan chủ nghĩa đế quốc. LêNin cho rằng nông dân là nh ng người sản xuất hàng hóa nhỏ, là nh ng người tiểu tư h u, họ khác nhau về trình độ đ a v kinh tế nhưng họ đều sinh sống bằng cách làm thuê cho giai cấp bóc lột ở nông thôn hoặc họ tồn tại bằng chính lao động của họ dựa trên nh ng điều kiện sẵn có của mình về tư liệu sản xuất chứ không sống bằng việc bóc lột lao động của người hác.Lênin c ng cho rằng: giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng độc lập mà tư tưởng của họ ph thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống tr đương thời. Trong các xã hội có áp bức bóc lột giai cấp, nông dân là nh ng người b chèn ép, bóc lột, do đó, con đường giải phóng của giai cấp nông dân chỉ có thể là đi theo giai cấp vô sản tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa để giành quyền lợi cho mình [72]. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam là một nước nông nghiệp, nông dân là bộ phận chiếm đông đảo trong xã hội, vấn đề nông dân và phát triển nông dân đã được đề cập trong cuộc sống, trong đó Hồ Chí Minh trên cơ sở kế thừa học thuyết Mác – Lênin về vấn đề nông dân và liên minh công nông trong điều k ên c thể của nước ta.
Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” (1925 người c ng hẳng đ nh: “công nông là gốc cách mệnh”. Trong thời kỳ vận động nông dân vào con đường hợp tác xã, Hồ Chí Minh nêu rõ đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn là phải dựa vào “bần nông” và “trung nông”. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh c ng luôn hẳng đ nh phải làm sao cho “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai c ng có cơm ăn áo mặc, ai c ng được học hành” [35,tr.161] trong đó đại đa số người dân Việt Nam là nông dân. Đảng cộng sản Việt Nam từ hi ra đời với khẩu hiệu “người cày có ruộng” đã cùng nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Đại hội VI (1986) đã đề ra đường lối đổi mới đất nước trong đó lấy kinh tế làm trọng tâm với m c tiêu: “đưa nông nghiệp tiến theo sản xuất lớn” “đối với nông dân, phương pháp giải quyết tốt quan hệ gi a nghĩa v đóng góp cho đất nước và quyền lợi của nông dân. Nhà nước phải soát lại các chính sách quan hệ đến nhân dân, bãi bỏ nh ng chính sách hông đúng” [16, tr. Hội ngh lần thứ Bảy Ban chấp hành trung ương hóa X hẳng đ nh: nông dân là chủ thể quan trọng của toàn bộ quá trình xây dựng đất nước nói chung, phát triển nông nghiệp và nông thôn nói riêng [1, tr112]. Trong l ch s dân tộc Việt Nam, người nông dân luôn gi vai trò quan trọng.
Thời kỳ cả nước có chiến tranh, giai cấp nông dân Việt Nam đã góp phần to lớn vào việc cung cấp sức người, sức của cho chiến trường, gi v ng hậu phương, góp phần cổ v , động viên bộ đội trên các chiến trường hoàn thành sự nghiệp thống nhất và giải phóng Tổ quốc. Vùng nông thôn luôn là “căn cứ đ a”, là “vùng háng chiến”, là “vùng tự do”, là “hậu phương v ng chắc” cho tiền tuyến, và người nông dân luôn là người lính gác, người che trở 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho cách mạng. Khi chiến tranh đi qua, nông nghiệp, nông thôn lại là chỗ trở về của đa số nh ng người nông dân cầm súng. Trong nh ng thời điểm đổi mới gay cấn, c ng chính nông dân là lực lượng tiên phong hai phá đổi mới, nh ng người đứng m i, ch u sào, lực lượng hỗ trợ Đảng và Nhà nước ổn đ nh tình hình và tạo đà cho phát triển.
Trong xã hội đương đại, nông dân Việt Nam vẫn còn là lực lượng chính tr đông đảo nhất, chiếm phần đông nhất trong dân cư, và là nền tảng cho ổn đ nh chính tr. Từ cơ sở lý luận trên có thể khái quát: giai cấp nông dân là một tập đoàn xã hội cơ bản không thuần nhất, sống ở địa bàn nông thôn, là những người tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, lao động sản xuất vật chất trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, nghề thủ công…làm ra lương thực, thực phẩm và các hàng nông sản khác, là một lực lượng xã hội quan trọng trong tiến trình lịch sử và cách mạng của dân tộc. Từ quan niệm đó, nông dân Việt Nam hiện nay có thể hiểu là nh ng người lao động sản xuất nhỏ là chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, thu nhập chủ yếu dựa vào các nông phẩm, sở h u nhỏ. Cùng với quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại, giai cấp nông dân có nh ng biến đổi theo xu hướng ngày càng giảm về số lượng, nâng cao về trình độ và chất lượng cuộc sống của họ.
Nông dân Việt Nam hiện nay không chỉ là nh ng người sản xuất nông nghiệp thuần túy mà còn là nh ng người có nghề, chuyên là nghề, hoạt động trong các d ch v ph c v sản xuất nông nghiệp, có nơi xuất hiện nh ng hình thức hợp tác, liên kết gi a nh ng người lao động. Đặc điểm của nông dân Việt Nam hiện nay Trong giai đoạn hiện nay người nông dân có nh ng đặc điểm nổi bật: - Nông dân Việt Nam hiện nay có sự kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc. L ch s dân tộc Việt Nam đã hình thành một hệ các giá tr truyền thống tốt đẹp mà trong đó hội t đầy đủ ở người nông dân Việt Nam. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngay từ xưa, người nông dân Việt Nam đã có phẩm chất cần cù trong lao động, chăm chỉ hăng hái tham gia sản xuất.
Đức tính này một phần do con người và do hoàn cảnh đ a lý, thiên nhiên tạo nên. Từ ngàn xưa, dưới chế độ xã hội phong kiến, người nông dân chủ yếu làm ăn riêng lẻ, công c lao động sản xuất hết sức thô sơ hông được cải tiến, năng suất lao động thấp kém, nếu gặp thiên tai như mưa bão, nắng hạn, sâu bọ có thể mùa màng năm đó mất trắng làm cho thu nhập càng ít ỏi. Vì vậy, để kiếm miếng cơm, manh áo, để duy trì sự sống của mình, nh ng người nông dân hông c n con đường nào khác là phải chống chọi với thiên nhiên. Thiên nhiên càng khắc nghiệt càng hình thành nên đức tính cần cù, d ng cảm, hăng say lao động, dẻo dai ch u thương ch u khó của họ.