phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng Chƣơng 2: Thực trạng vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa Chƣơng 3: Giải pháp và khuyến nghị nâng cao vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho ngƣời có công với cách mạng tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1. Một số khái niệm cơ ản của đề tài 1. Khái niệm Vai tr Vai trò là một hoặc nhiều chức năng mà cá nhân ấy phải đảm trách trƣớc xã hội.
Theo Robertsons, vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ đƣợc gắn liền với một vị thế xã hội nhất định.org) Trong cuốn iáo trình ã hội học hai tác giả là Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng quan niệm: Vai trò xã hội là mô hình hành vi đƣợc xác lập một cách khách quan căn cứ vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị thế nhất định, để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tƣơng ứng với các vị thế đó.[4] Mỗi cá nhân có vô vàn vai trò, có bao nhiêu mối quan hệ xã hội thì có bấy nhiêu vai trò xã hội. Vị thế và vai trò của cá nhân trong xã hội bắt nguồn từ vị trí kinh tế, chính trị, xã hội của họ, từ địa vị của các cá nhân thuộc các giai cấp và các nhóm xã hội khác mà quy định nên. Mỗi cá nhân có nhiều vị thế và vai trò khác nhau ở gia đình, ngoài xã hội… và tùy theo vai trò của mình mà cá nhân sẽ có cách ứng xử, hành vi, tác phong, hành động tƣơng ứng với vai trò mà cá nhân đảm trách. Nhƣ vậy, vai trò là một hoặc nhiều chức năng mà cá nhân phải đảm trách, để thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ tƣơng ứng với một vị thế nhất định.
Để cá nhân có thể thực hiện tốt các vai trò, một mặt, các đòi hỏi chuẩn mực do xã hội đặt ra phải rõ ràng. Mặt khác, cá nhân phải học hỏi về các vai 13 trò trong quá trình xã hội hóa, tức là học hỏi về những yêu cầu, đòi hỏi mà họ cần phải thực hiện khi họ tiếp nhận một vị thế xã hội nhất định. Khái niệm Hỗ trợ Theo Từ điển tiếng Việt thì hỗ trợ là: giúp đỡ nhau, giúp thêm vào; hỗ trợ bạn bè, hỗ trợ cho đồng đội kịp thời. Hỗ trợ về khía cạnh xã hội là sự tƣơng trợ giữa ngƣời với ngƣời, những ngƣời biết hỗ trợ cho những ngƣời chƣa biết.
Kẻ mạnh có thể hỗ trợ cho những kẻ yếu thế để tạo ra mối quan hệ tốt đẹp cùng phát triển, tiến tới xã hội văn minh hơn. Hỗ trợ về khía cạnh kinh tế là ngƣời có tiền sẽ hỗ trợ cho ngƣời không có tiền, ngƣời có tiềm lực kinh tế hỗ trợ cho ngƣời có trí tuệ để cùng nhau phát triển phục vụ mục tiêu chung. Do vậy có thể hiểu hỗ trợ là sự giúp đỡ nhau, trợ giúp kịp thời khi cá nhân, gia đình và cộng đồng gặp phải một số vấn đề, khó khăn không thể tự giải quyết được; hoặc hướng dẫn họ làm việc gì đó. Khái niệm Sức khỏe và chăm sóc sức khỏe * Sức khỏe: Có rất nhiều quan niệm khác nhau về sức khỏe.
Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO thì: “Sức khoẻ là một trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ không có bệnh hay thương tật”.[18] Nhƣ vậy, chúng ta có thể hiểu sức khoẻ gồm 3 mặt: Sức khoẻ thể chất, sức khoẻ tinh thần và sức khoẻ xã hội. - Sức khoẻ thể chất : Sức khoẻ thể chất đƣợc thể hiện một cách tổng quát sự sảng khoái và thoải mái về thể chất. Càng sảng khoái, thoải mái, càng chứng tỏ bạn là ngƣời khoẻ mạnh. Cơ sở của sự sảng khoái, thoải mái thể chất là: 14 Sức lực: Khả năng hoạt động của cơ bắp mạnh, có sức đẩy, sức kéo, sức nâng cao…do đó làm công việc chân tay một cách thoải mái nhƣ mang vác, điều khiển máy móc, sử dụng công cụ… Sự nhanh nhẹn: Khả năng phản ứng của chân tay nhanh nhạy, đi lại, chạy nhảy, làm các thao tác kỹ thuật một cách nhẹ nhàng, thoải mái.
Sự dẻo dai: Làm việc hoặc hoạt động chân tay tƣơng đối lâu và liên tục mà không cảm thấy mệt mỏi. Khả năng chống đỡ được các yếu tố gây bệnh: ít ốm đau hoặc nếu có bệnh cũng nhanh khỏi và chóng hồi phục. Khả năng chịu đựng được những điều kiện khắc nghiệt của môi trường: Chịu nóng, lạnh, hay sự thay đổi đột ngột của thời tiết. - Sức khoẻ tinh thần : Sức khoẻ tinh thần là hiện thân của sự thoả mãn về mặt giao tiếp xã hội, tình cảm và tinh thần.
Nó đƣợc thể hiện ở sự sảng khoái, ở cảm giác dễ chịu, cảm xúc vui tƣơi, thanh thản; ở những ý nghĩ lạc quan, yêu đời; ở những quan niệm sống tích cực, dũng cảm, chủ động; ở khả năng chống lại những quan niệm bi quan và lối sống không lành mạnh. Có thể nói, sức khoẻ tinh thần là nguồn lực để sống khoẻ mạnh, là nền tảng cho chất lƣợng cuộc sống, giúp cá nhân có thể ứng phó một cách tự tin và hiệu quả với mọi thử thách, nguy cơ trong cuộc sống. Sức khoẻ tinh thần cho ta khí thế để sống năng động, để đạt đƣợc các mục tiêu đặt ra trong cuộc sống và tƣơng tác với ngƣời khác với sự tôn trọng và công bằng. Sức khoẻ tinh thần chính là sự biểu hiện nếp sống lành mạnh, văn minh và có đạo đức.
Cơ sở của sức khoẻ tinh thần là sự thăng bằng và hài hoà trong hoạt động tinh thần giữa lý trí và tình cảm. - Sức khoẻ xã hội : Sự hoà nhập của cá nhân với cộng đồng đƣợc gọi là sức khoẻ xã hội nhƣ câu nói của Mác: "Con ngƣời là sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội”. 15 Sức khoẻ xã hội thể hiện ở sự thoải mái trong các mối quan hệ chằng chịt, phức tạp giữa thành viên: gia đình, nhà trƣờng, bạn bè, xóm làng, nơi công cộng, cơ quan. Nó thể hiện ở sự đƣợc chấp nhận và tán thành của xã hội.
Càng hoà nhập với mọi ngƣời, đƣợc mọi ngƣời đồng cảm, yêu mến càng có sức khoẻ xã hội tốt và ngƣợc lại. Cơ sở của sức khoẻ xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã hội, của những ngƣời khác; là sự hoà nhập giữa cá nhân, gia đình và xã hội. Ba yếu tố sức khoẻ thể chất, sức khoẻ tinh thần và sức khoẻ xã hội có liên quan chặt chẽ với nhau. Nó là sự thăng bằng, hài hoà của tất cả những khả năng sinh học, tâm lý và xã hội của con ngƣời.
Nó là cơ sở quan trọng tạo nền tảng cho hạnh phúc con ngƣời. Nhƣ vậy có thể hiểu một ngƣời hoàn toàn khỏe mạnh phải là một ngƣời có đầy đủ sức khỏe về thể chất, tinh thần và có các mối quan hệ xã hội tốt đẹp. Cụ thể: Một ngƣời đƣợc xem là có sức khỏe thể chất không những không có thƣơng tật, bệnh tật mà các hoạt động về thể lực cũng nhƣ tất cả các hoạt động sống đều ở trạng thái tốt nhất và phù hợp với từng điều kiện hoàn cảnh, lứa tuổi. Có đƣợc một cơ thể khỏe mạnh là mơ ƣớc - mục tiêu - mục đích mà mọi ngƣời hƣớng đến và cố gắng thực hiện mọi biện pháp để đạt đến cái ngƣỡng đó.
Tất cả những yếu tố về sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần, quan hệ xã hội đƣợc kết hợp một cách hài hòa và đảm bảo sẽ làm nên vẻ đẹp sáng ngời của một con ngƣời, nhƣ cha ông ta đã từng khẳng định “Bàn tay ta làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm”. Các yếu tố này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại, ảnh hƣởng mạnh mẽ đến nhau, nếu thiếu một trong các thành tố trên sẽ không làm nên sức khỏe con ngƣời. Vì vậy, mỗi chúng ta cần có sự chăm lo phát triển 16 một cách hợp lý, hài hòa cân đối giữa các yếu tố để đạt đến một trạng thái sức khỏe tốt và có cuộc sống lý tƣởng nhất. Định nghĩa trên đã chỉ cho chúng ta thấy rõ trạng thái sức khỏe cần đạt đƣợc để từ đó mỗi cá nhân hƣớng đến và vạch ra mục tiêu, phƣơng pháp để đạt đƣợc.
Tuy nhiên, định nghĩa trên cũng gặp phải hạn chế là chƣa đƣa ra đƣợc mục tiêu, phƣơng pháp, kế hoạch thực hiện cho các lực lƣợng tham gia vào quá trình chăm sóc sức khỏe. * Chăm sóc sức khỏe: Có rất nhiều khái niệm khác nhau về chăm sóc sức khỏe. Theo tác giả Hoàng Đình Cầu trong cuốn: “ Quản lý chăm sóc sức khỏe ban đầu”, NXB y học Hà Nội năm 1995 thì: "Chăm sóc sức khỏe là việc làm thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, để đảm bảo trạng thái thỏa mãn về thể chất, tinh thần, xã hội của mỗi thành viên trong xã hội".55] Theo WHO thì nâng cao sức khỏe chính là sự hỗ trợ mà trong đó quan trọng nhất là tạo khả năng cho ngƣời dân kiểm soát và nâng cao sức khỏe của mình. Có rất nhiều ý kiến, cách thức và những yêu cầu đặt ra cho mỗi cá nhân cũng nhƣ cộng đồng trong việc chăm sóc bảo vệ và nâng cao sức khỏe.
Trong nghiên cứu này, chăm sóc sức khỏe là việc làm thỏa mãn các nhu cầu về thể chất, tinh thần và xã hội cho ngƣời có công với cách mạng. Khái niệm Người có công với cách mạng Theo nghĩa rộng: " Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước. Họ có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc, phục vụ cho lợi ích của đất nước, của dân tộc".