phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, Luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về vai trò của Nhân viên Công tác xã hội trong hỗ trợ ngƣời nghèo Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện vai trò của Nhân viên Công tác xã hội trong hỗ trợ ngƣời nghèo tại xã Viên Nội, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao vai trò của Nhân viên Công tác xã hội trong hỗ trợ ngƣời nghèo tại xã Viên Nội 13 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP NGƢỜI NGHÈO 1. Khái niệm công cụ nghiên cứu 1. Khái niệm nghèo Có nhiều khái niệm nghèo khác nhau nhƣng các khái niệm đều cơ bản nêu ra: Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ m c, không đƣợc đi học, không đƣợc đi khám, không có đất đai để trồng trọt ho c không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không đƣợc tiếp cận tín dụng.
Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội ho c trong các điều kiện rủi ro, không đƣợc tiếp cận nƣớc sạch và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008, được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua). Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực châu á Thái Bình Dƣơng do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 2003 tại Băng Cốc - Thái Lan đã đƣa ra khái niệm về định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối. Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con ngƣời mà những nhu cầu này đã đƣợc xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phƣơng.
Khái niệm nghèo tƣơng đối đƣợc Robert Mc Namara - nguyên Tổng giám đốc WB định nghĩa “Nghèo ở mức độ tương đối. là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tương đối là những người phải 14 đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt qua sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta” (Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc 1997). Năm 1998, UNDP công bố một bản báo cáo nhan đề “khắc phục sự nghèo khổ của con ngƣời” đã đƣa ra những định nghĩa về nghèo.
Sự nghèo khổ của con ngƣời: thiếu những quyền cơ bản của con ngƣời nhƣ biết đọc, biết viết, đƣợc tham gia vào các quyết định cộng đồng và đƣợc nuôi dƣỡng tạm đủ. Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu. Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng thoả mãn những nhu cầu tối thiểu. Sự nghèo khổ chung: mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn đƣợc xác định nhƣ sự không có khả năng thoả mãn những nhu cầu lƣơng thực và phí lƣơng thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi đƣợc xác định khác nhau ở nƣớc này ho c nƣớc khác.
Luận văn sử dụng khái niệm nghèo theo Liên Hợp Quốc. Trong đó nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Chính vì vậy, NVCTXH cần hỗ trợ ngƣời nghèo để họ vƣơn lên thoát nghèo trong cuộc sống. Khái niệm người nghèo Là những ngƣời thuộc hộ nghèo, họ không có điều kiện để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống về lƣơng thực, thực phẩm và phi lƣơng thực thực phẩm và các nhu cầu này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế- xã hội của từng vùng, miền.
Khái niệm hộ nghèo Các tiêu chuẩn về hộ nghèo, cận nghèo đã đƣợc qui định chi tiết tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tƣớng Chính phủ: Hộ nghèo: Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: - Có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; - Có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên1. Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: - Có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; - Có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Dựa trên chuẩn nghèo quốc gia, Thành phố Hà Nội cũng đã ban hành tiêu chí liên quan đến chuẩn nghèo, cận nghèo của Thành phố Hà Nội. Các tiêu chuẩn này đã đƣợc quy định chi tiết tại Quyết định số 12/2016/QĐ- UBND ngày 13/04/2016 của UBND Thành phố Hà Nội, theo đó: - Hộ nghèo Khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: - Có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng từ đủ 1.000 đồng trở xuống.
1 Các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 5 dịch vụ: y tế; giáo dục; nhà ở; nƣớc sạch và vệ sinh; thông tin 16 - Có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng trên 1.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: - Có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng từ đủ 1.000 đồng trở xuống. - Có thu nhập bình quân đầu ngƣời/tháng trên 1.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lƣờng mức độ thiếu hụt các DVXH cơ bản trở lên. Luận văn sử dụng tiêu chí hộ nghèo, hộ cận nghèo theo Quyết định số 12/2016/QĐ-UBND ngày 13/04/2016 của UBND Thành phố Hà Nội.
Những hộ nghèo đƣợc khảo sát là những hộ nghèo có tên trong danh sách hộ nghèo do UBND cấp xã công nhận. Theo đó, khái niệm ngƣời nghèo đƣợc sử dụng trong nghiên cứu đƣợc hiểu là những ngƣời thuộc hộ nghèo. Khái niệm Công tác xã hội CTXH là một hoạt động chuyên nghiệp và có mục đích hƣớng tới hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết các vấn đề mà họ đang g p phải. Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về công tác xã hội, dƣới đây là một số định nghĩa về công tác xã hội.
Theo định nghĩa của Hội đồng Đào tạo công tác xã hội Mỹ “CTXH là một nghề nhằm tăng cường các chức năng xã hội của cá nhân, hay nhóm người bằng những hoạt động tập trung vào can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa con người và môi trường có hiệu quả”. Trong đó, gồm 03 loại can thiệp chính đó là phục hồi năng lực đã bị hạn chế; cung cấp nguồn lực cá nhân và xã hội; phòng ngừa sự suy giảm chức năng xã hội. 17 Theo Hiệp hội nhân viên CTXH chuyên nghiệp (NASW) của Mỹ định nghĩa “CTXH là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng phục hồi hay tăng cường năng lực và chức năng xã hội để tạo ra những điều kiện xã hội cần thiết, giúp họ đạt được mục tiêu”. Hội nghị Quốc tế của Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp Quốc tế (IFSW) đƣợc tổ chức tại Montreal, Canada, vào tháng 7 năm 2004, cũng đã đƣa ra định nghĩa CTXH và sau đó vào tháng 7 năm 2011, Hiệp hội CTXH quốc tế và các trƣờng đào tạo CTXH quốc tế đã thống nhất chung định nghĩa về CTXH, đó là “CTXH là một nghề nghiệp tham gia vào giải quyết các vấn đề liên quan đến mối quan hệ xã hội của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người”.
Theo Đề án 32 của Thủ tƣớng Chính phủ: Công tác xã hội góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của thân chủ, hƣớng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho ngƣời dân và hệ thống an sinh xã hội tiên tiến. Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai 2014), CTXH đƣợc hiểu là một hoạt động chuyên nghiệp hỗ trợ giải quyết các VĐXH. Theo tác giả: “CTXH được xem là một nghề hay một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình và cộng đồng, đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội”. Đồng thời, CTXH thúc đẩy môi trƣờng xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các VĐXH góp phần đảm bảo ASXH” [17,19].
Trong luận văn này, tôi sử dụng khái niệm CTXH của tác giả Bùi Thị Xuân Mai, bởi quan niệm nàyđã mô tả đƣợc hầu hết các đ c điểm chung của 18 các định nghĩa về CTXH, đó là coi CTXH là một hoạt động chuyên nghiệp, đòi hỏi phải có kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ và những quy định về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp khi hỗ trợ cho thân chủ. Đồng thời, nhấn mạnh mục đích của CTXH đó là giúp đỡ cho các cá nhân, gia đình hay cộng đồng phục hồi hay NCNL để tăng cƣờng chức năng xã hội hay tạo ra những thay đổi về vai trò, vị trí ho c giải quyết những vấn đề cụ thể. Khái niệm nhân viên Công tác xã hội Nhân viên xã hội đƣợc Hiệp hội các nhà công tác xã hội chuyên nghiệp Quốc tế - IASW định nghĩa: “Nhân viên xã hội là người được đào tạo và trang bị các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội, họ có nhiệm vụ: Trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn”[17,141]. Tại Việt Nam, trong Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg của Thủ Tƣớng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020, ngày 25 tháng 3 năm 2010 cũng đề cập NVCTXH đƣợc đào tạo và là một nghề chuyên nghiệp.