Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. MỘT SỐ CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu lý luận chung về vai trò của nhân dân, Quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Dân chủ nói chung, Quy chế dân chủ cơ sở nói riêng là những phạm trù được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Việc nghiên cứu chủ đề này không chỉ có ý nghĩa góp phần làm sáng tỏ sự cần thiết khách quan, bản chất, cách thức thực hành dân chủ, mà còn xây dựng lý luận để soi đường, chỉ đạo thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho việc ban hành chủ trương, chính sách thực hiện dân chủ của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về quần chúng nhân dân và vai trò của quần chúng nhân dân như: Lê Duẩn, “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” [14]; Phạm Văn Đồng “Học tập quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch” [26]; Việt Tiến, “Nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trong Hiến pháp 2013” [89]; Vũ Lân, “Để quần chúng nhân dân tham gia tốt hơn vào công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền” [39]. Trong các công trình này, các tác giả đã làm sáng tỏ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân dân và vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng nói chung, ở Việt Nam hiện nay nói riêng. Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn trong công trình “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” khẳng định, quần chúng nhân dân là phạm trù mang tính lịch sử, trong các thời kỳ khác nhau thì lực lượng quần chúng cũng khác nhau. Theo tác giả, tính đặc thù của quần chúng nhân dân ở Việt Nam chủ yếu là 7 nông dân.
Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945 là cuộc nổi dậy của toàn dân, nhưng lực lượng chủ yếu là nông dân. Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong cuốn “Học tập quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ Chủ tịch” cho rằng, quan điểm nhân dân của Hồ Chủ tịch là đồng nhất với quan điểm quần chúng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Với sự vận dụng sáng tạo quan điểm đó vào thực tiễn cách mạng, Hồ Chí Minh kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam đoàn kết chiến đấu để giữ vững thành quả cách mạng. Tác giả làm rõ vai trò của nhân dân theo quan điểm của Người là tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh, năng lực sáng tạo, cách mạng của quần chúng nhân dân.
Để phát huy sức mạnh của nhân dân, Đảng, Nhà nước phải biết huy động, tổ chức, lãnh đạo nhằm thực hiện những nhiệm vụ cách mạng thích hợp với từng giai đoạn, từng địa phương, từng ngành công tác. Tác giả Việt Tiến trong bài “Nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trong Hiến pháp 2013” cho rằng, Hồ Chí Minh là người có tư tưởng đầy đủ, đúng đắn về vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân; coi nhân dân là lực lượng có sức mạnh vô tận và nguyên nhân thắng lợi của cách mạng. Tư tưởng của Hồ Chí Minh mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho Đảng và Nhà nước ta trong quá trình lãnh đạo nhân dân qua các thời kỳ cách mạng. Đảng và Nhà nước ta luôn quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người về sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp cách mạng.
Khi phân tích vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng, chính quyền, tác giả Vũ Lân cho rằng: “Cho đến nay, trong điều kiện, hoàn cảnh, nhất là trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, trong điều kiện Đảng cầm quyền, với những vấn đề cấp bách đặt ra trong xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, thì cần có cơ chế, quy chế, quy định cụ thể thống nhất, đồng bộ, bài bản, cụ thể hơn trong công tác này” [39, tr. Tác giả cũng nhấn mạnh: “Nhưng dù có quy định thế nào chăng 8 nữa, đối tượng giám sát nhất thiết phải có quần chúng nhân dân chứ không phải chỉ có những người đại diện cho quần chúng” [39, tr. Tác giả đề cao vai trò của dân chủ trực tiếp trong tổ chức, hoạt động của Đảng và Nhà nước trong điều kiện mới. Một số công trình nghiên cứu về dân chủ cơ sở và quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở như: “Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn Thông [78]; “Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Dương Xuân Ngọc [69]; “Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay.
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Cúc; “Một số vấn đề rút ra từ đổi mới nhận thức về vai trò của “Dân” trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” của Phạm Ngọc Quang [76]; "Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước - một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của Đào Trí Úc [96]; "Thực hiện dân chủ ở cơ sở và vấn đề tăng cường ý thức trách nhiệm của Nhà nước" của Lê Thi [86]; Một số suy nghĩ về xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay" của Đỗ Trung Hiếu [33]; “Dân chủ trực tiếp ở Việt Nam lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Văn Mạnh, Tào Thị Quyên [57]; “Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn các tỉnh Tây nguyên thời kỳ đổi mới” của Đỗ Văn Dương [15]. Trong các công trình trên, hầu hết các tác giả thống nhất quan điểm cho rằng: dân chủ ở cơ sở là hình thức nhân dân thực hiện quyền làm chủ, quyền tự quyết của mình được tiến hành từ cấp xã xuống đến thôn/ tổ dân phố theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các nội dung có liên quan đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của người dân ở cơ sở bằng những hình thức nhất định, phù hợp với các nguyên tắc và quy định của pháp luật [15, tr. Tác giả Lê Thi cho rằng, dân chủ ở cơ sở không phải là hình thức, mà là một cấp độ của chế độ dân chủ. Nội dung của dân chủ cơ sở được thể hiện dưới các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp.
Củng cố và mở rộng dân chủ 9 ở cơ sở là một quá trình nâng cao sức mạnh và hiệu quả hoạt động của nhà nước, trước hết ở cấp xã, phường, thị trấn. Đây cũng là quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả tích cực của các cơ quan nhà nước [86, tr. Về chủ thể thực hiện dân chủ ở cơ sở, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra ba laoij chủ thể chủ yếu sau: chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo là đảng bộ các cấp từ tỉnh đến xã, nòng cốt là Ban chấp hành đảng bộ, cấp ủy các cấp; chủ thể tổ chức thực hiện là HĐND, UBND, UBMT Tổ quốc các cấp, các cá nhân Chủ tịch UBND xã, trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, công chức cấp xã được giao nhiệm vụ; chủ thể trực tiếp thực hiện là các tầng lớp nhân dân trên địa bàn xã, phường, thị trấn [15, tr. Về nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở, nhiều công trình đã phân tích và chỉ ra một số nội dung chủ yếu sau: Nhân dân thực hiện quyền được biết các nội dung liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội ở xã, phường, thị trấn; nhân dân được bàn và quyết định một số công việc ở cơ sở; nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định; nhân dân thực hiện quyền giám sát.
Về mối quan hệ giữa thực hành dân chủ với phát triển nông thôn, trong cuốn sách “Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay” [78], tác giả Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn Thông cho rằng, phát huy dân chủ là một trong những động lực chủ yếu để phát triển nông thôn cả trong lịch sử và hiện tại của dân tộc. Cũng trong công trình này, các tác giả đã đi sâu phân tích vai trò của hệ thống chính trị trong ổn định chính trị, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; vai trò lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền nhà nước ở nông thôn. Về mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ, trong bài viết “Một số vấn đề rút ra từ đổi mới nhận thức về vai trò của “Dân” trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” [76], tác giả Phạm Ngọc Quang cho rằng: Xuất phát từ nhận thức mới về 10 vai trò của dân đối với Đảng, đã đến lúc phải khẳng định rằng, tự nó, Đảng không có quyền, mọi quyền lực mà Đảng có được là do nhân dân uỷ quyền cho. Đảng và Nhà nước là thiết chế bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.
Nhân dân làm chủ bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước là cơ chế có hiệu quả nhất. Xét về thực chất, Nhà nước ta là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Tự nó, mọi cơ quan nhà nước không có quyền. Mọi quyền lực nhà nước có được đều do nhân dân uỷ quyền cho nó.
Mặc dù không trực tiếp bàn tới bản chất mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý với Nhân dân làm chủ, song từ phân tích trên đã gợi ý cho luận án hướng nghiên cứu về bản chất của mối quan hệ này, đặc biệt là xác định vị trí của nhân dân trong mối quan hệ. Bàn về vai trò của nhân dân trong giám sát hoạt động của bộ máy Đảng, chính quyền cấp cơ sở, tác giả Đào Trí Úc trong công trình "Cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước - một số vấn đề lý luận và thực tiễn" cho rằng, cơ chế giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước thông qua hai hình thức: Một là, thông qua các tổ chức đại diện như Quốc hội, HĐND, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân…; hai là, nhân dân trực tiếp giám sát. Tuy nhiên, tác giả cũng nhận định trên thực tế, quyền dân chủ, quyền giám sát của nhân dân hiện nay còn mang tính hình thức, do đó, kết quả không đạt được như mong muốn.