phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục và 3 chương. Những vấn đề cơ bản về vai trò nhà nƣớc trong phát triển vận tải hành khách công cộng trên địa bàn thủ đô Hà Nội. Thực trạng vai trò nhà nƣớc trong phát triển vận tải hành khách công cộng trên địa bàn Hà Nội những năm đổi mới. Định hƣớng và giải pháp tăng cƣờng vai trò nhà nƣớc trong phát triển vận tải hành khách công cộng trên địa bàn Hà Nội những năm tới.
4 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VAI TRÕ NHÀ NƢỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN THỦ ĐÔ 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VTHKCC VÀ VAI TRÕ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN THỦ ĐÔ 1. Những vấn đề chung về VTHK.1 Giao thông vận tải đô thị : Cấu trúc và đặc điểm Giao thông vận tải đô thị (GTVTĐT) được hiểu là tập hợp các công trình, các con đường giao thông và các phương tiện tham gia giao thông khác nhau đảm bảo sự liên hệ giữa các khu vực với nhau của đô thị. Hệ thống GTVTĐT bao gồm hai bộ phận: hệ thống giao thông và hệ thống vận tải (Xem sơ đồ 1.
Hệ thống giao thông đô thị bao gồm hệ thống giao thông động và hệ thống giao thông tĩnh. Nó vừa thực hiện chức năng giao thông thuần tuý , vừa thực hiện chức năng kỹ thuật, chức năng môi trường. Ngoài chức năng chính là giao thông, đường phố còn bao gồm các công trình ngầm và các công trình trên mặt đất để thực hiện chức năng kỹ thuật và chức năng môi trường. Hệ thống vận tải đô thị bao gồm vận tải hành khách, vận tải hàng hoá và vận tải chuyên dụng.
Mặc dù có sự khác nhau về đối tượng vận tải nhưng vận tải đô thị có những đặc điểm chung. Điều này thể hiện trước hết ở chỗ, vận tải là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt. Sản xuất trong quá trình vận tải là quá trình tác động về mặt không gian, chứ không tác động về mặt kỹ thuật vào đối 5 tượng lao động. Trong vận tải không có đối tượng lao động như ngành sản xuất khác mà chỉ có đối tượng chuyên chở gồm hàng hoá và hành khách.
Sản xuất vận tải không tạo ra sản phẩm vật chất mới; Sản phẩm vận tải không có hình dáng kính thước cụ thể; Sản phẩm vận tải không thể dự trữ được, mà chỉ có năng lực vận tải mới có thể dự trữ, nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải tăng lên đột biến theo mùa vụ. Bên cạnh những đặc điểm chung đó, vận tải hành khách đô thị cũng có những đặc điểm riêng. Những nét riêng này thể hiện trên những khía cạnh sau: Thứ nhất, mật độ mạng lưới đường cao. Đô thị là nơi tập trung dân cư với mật độ dân số cao, đồng thời là tụ điểm của các hoạt động kinh tế - chính trị – thương mại, dịch vụ…Do đó xét trên phương diện vận tải, nhu cầu vận tải đô thị rất lớn.
Bởi vậy, để thoả mãn được nhu cầu này nhất thiết phải có một mạng lưới giao thông phát triển bao phủ toàn thành phố. Dân số đô thị càng lớn thì nhu cầu đi lại tăng lớn cả về số lượng chuyến đi và cự ly đi lại bình quân. Đây là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến việc ách tắc giao thông. Lưu lượng giao thông rất cao nhưng lại tập trung vào khu trung tâm và xuất hiện vào giờ cao điểm tạo ra sự căng thẳng và có thể dẫn đến tắc nghẽn giao thông thường xuyên nếu hệ thống GTVT đô thị không thoả mãn được lưu lượng tham gia giao thông.
Thứ hai, tốc độ luồng giao thông nhỏ.Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tốc độ luồng giao thông trong đô thị nhỏ hơn so với giao thông đối ngoại. Các nguyên nhân chủ yếu có thể kể đến là: Mật độ và lưu lượng giao thông cao, đặc biệt vào giờ cao điểm; Dùng phương tiện chịu sự tác động của hệ thống điều khiển; Đô thị là nơi tập trung dân cư. Thứ ba, hệ thống giao thông đô thị đòi hỏi chi phi lớn (xây dựng và vận hành). Những yếu tố làm tăng chi phí đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống 6 GTVT đô thị là: Mật độ đi lại dày đặc buộc phải có những công trình hạ tầng tương ứng có quy mô và yêu cầu kỹ thuật cao như : cầu vượt, các tuyến đường ngầm; Phương tiện gồm các phương tiện vận tải đắt tiền do đòi hỏi phải có chất lượng cao, đảm bảo an toàn và môi trường sinh thái.1: Cấu thành hệ thống giao thông vận tải đô thị.
Giao thông vận Hệ thống Hệ thống giao thông tải đô thị vận tải Hệ thống Hệ thống giao giao Vận tải Vận tải Vận tải thông thông hàng hóa chuyên động tĩnh hành khách dụng Công cộng Cá nhân 1.2 Vận tải hành khách công cộng (VTHKCC). Như đã nói, hệ thống giao thông vận tải đô thị bao gồm hệ thống giao thông và hệ thống vận tải. Vận tải hành khách công cộng là một bộ phận cấu thành của hệ thống vận tải đô thị. Sơ đồ 1 đã mô tả cấu thành cơ bản của hệ thống giao thông đô thị.
Vận tải hành khách công cộng (VTHKCC) là loại hình vận chuyển trong đô thị. Nó đáp ứng khối lượng nhu cầu đi lại của mọi tầng lớp dân cư 7 một cách thường xuyên, liên tục theo thời gian xác định, theo hướng và tuyến ổn định trong từng thời kỳ nhất định. Ở Việt Nam theo “Quy định tạm thời về vận chuyển hành khách công cộng trong các thành phố” của Bộ Giao thông Vận tải “là tập hợp các phương thức vận chuyển hành khách đi lại trong thành phố ở cự ly <50km và có sức chứa lớn hơn 8HK (không kể người lái)”.3 Yêu cầu của việc phát triển VTHKCC. Vận tải hành khách công cộng được thực hiện dưới nhiều phương tiện, như vận tải hành khách bằng hệ thống xe buýt, xe tắc xi, tầu điện ngầm hoặc tầu điện trên không, trong đó, hoạt động vận tải bằng xe buýt là một trong những hoạt động vận tải hành khách quan trọng.
Tại một hội nghị về giao thông đô thị đã thống nhất: Xe buýt là loại phương tiện VTHKCC phải có trong bất kỳ thành phố nào. Đặc điểm của VTHKCC bằng xe buýt là hoạt động công ích được trợ giá theo quy định hiện hành của nhà nước, Vận tải công cộng với số lượng vận chuyển lớn, chạy theo luồng tuyến cố định, theo tiêu chí phục vụ do thành phố đề ra. Không vì mục đích kinh doanh để thu lợi nhuận mà vì mục đích công ích của xã hội; Chạy đúng giờ theo thời gian biểu, Đảm bảo an ninh cho hành khách. Để đảm bảo an ninh cho hành khách trên xe cũng như hành khách ở các điểm dừng đỗ, điểm đầu phải phát huy vai trò của bộ phận kiểm tra giám sát của các lực lượng như công an, cảnh sát thành phố cùng phối hợp trong việc duy trì trật tự an ninh trên các tuyến xe buýt.
Nhằm tạo sự yên tâm, tin tưởng cho mọi hành khách, đây cũng là yêu cầu của mọi người khi đi trên xe đồng thời cùng mọi người hướng tới mục đích loại trừ các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an, vừa bảo vệ tính mạng và tài sản của hành khách đi xe buýt đồng thời giữ gìn phương tiện của nhà nước. 8 Như vậy vai trò của nhà nước đối với việc phát triển VTHKCC bằng xe buýt trong vấn đề giao thông đô thị là rất lớn. Nguyên tắc và sự cần thiết ph át huy vai tr ò c ủa nhà nƣớc trong phát triển vận tải hành khách công cộng trên địa bàn Thủ đô 1. Nguyên tắc của quản lý Nhà nƣớc về giao thông vận tải đô thị.
Về khái niệm, quản lý nhà nước về GTVTĐT là sự tác động của bộ máy quản lý nhà nước vào các quá trình, các quan hệ kinh tế - xã hội trong hoạt động giao thông vận tải đô thị từ quy hoạch, kế hoạch đến tổ chức thực hiện, từ xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đến khai thác phương tiện, từ tổ chức giao thông trên mạng lưới đến tổ chức, quản lý, khai thác bến bãi và các hoạt động khác nhằm hướng ý chí và hành động của các chủ thể kinh tế vào thực hiện tốt nhiệm vụ của giao thông vận tải đô thị, kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân, tập thể và lợi ích của Nhà nước. Về thực chất, quản lý Nhà nước về giao thông vận tải đô thị là toàn bộ hệ thống quản lý của các cơ quan chấp hành và điều hành của bộ máy Nhà nước để tác động vào các quá trình, các quan hệ thuộc hoạt động giao thông vận tải đô thị nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Những nguyên tắc cơ bản của quản lý nhà nước đối với hoạt động giao thông vận tải đô thị: Thứ nhất, Nhà nước thống nhất quản lý hoạt động giao thông vận tải đô thị đối với tất cả các thành phần kinh tế. Những nội dung quản lý có liên quan tới là mục tiêu chiến lược phát triển, quy hoạch và kế hoạch phát triển giao thông vận tải đô thị; những quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn thiết kế và xây dựng đường đô thị; định hướng 9 lựa chọn công nghệ vận tải, an toàn giao thông, sử dụng đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo hiểm và các khía cạnh xã hội khác có liên quan.
Thứ hai, thực hiện đúng quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, luật lệ giao thông vận tải và các luật lệ khác có liên quan. Đối với các dự án đầu tư cho giao thông vận tải đô thị có sử dụng vốn nhà nước thì Nhà nước còn quản lý về các mặt thương mại, tài chính và hiệu quả kinh tế của dự án. Thứ ba, phân định rõ chức năng quản lý nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh. Quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp trong các hoạt động giao thông vận tải đô thị.Trong điều kiện kinh tế thị trường, việc tách chức năng quản lý nhà nước với quản lý hoạt động kinh doanh là một yêu cầu tất yếu.
Thứ tư, quản lý bằng hệ thống luật pháp. Nhà nước xây dựng hệ thống luật pháp yêu cầu các tổ chức và các cá nhân tham gia hoạt động GTVT đô thị phải chấp hành. Trên phạm vi cả nước là luật giao thông, nhằm điều tiết các chủ thể tham gia vào quá trình giao thông.